Tag Archives: Đ.T.H.L

PHỐI HỢP VỚI TAND TỈNH THÁI NGUYÊN XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

23 Tháng Mười, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, sáng ngày 08/10/2018, Phòng 9 – VKS tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – Tòa án tỉnh tổ chức phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Ông Mai Xuân Chung

Địa chỉ: TDP Son Trung, phường Bắc Sơn, TX Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Chị Trần Tú Lệ

Địa chỉ: Tổ 1C, phường Nông Trang, Việt Trì, Phú Thọ.

Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa: Đ/c Nguyễn Thành Nam – Kiểm sát viên trung cấp.

Tham dự phiên tòa rút kinh nghiệm có các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Mai Xuân Chung trình bày: Từ năm 2014 đến 2015 bà Trần Tú Lệ đã nhiều lần đến nhà ông vay tiền, cụ thể: Lần 1: Ngày 23/6/2014 vay ông Chung số tiền 80.000.000đ hẹn đến ngày 31/12/2014 trả; lần 2: Ngày 09/7/2014 vay 80.000.000đ hẹn đến ngày 31/12/2014 trả; lần 3: Ngày 10/11/2014 vay 96.000.000đ hẹn đến ngày 31/12/2014 trả; lần 4: Ngày 05/6/2015 vay 72.000.000đ hẹn đến ngày 15/6/2015 trả; lần 5: Ngày 07/10/2015 vay 80.000.000đ, hẹn đến ngày 31/12/2015 trả. Trong các lần vay hai bên đều lập hợp đồng vay, có thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 2%/tháng. Đến nay chị Lệ chưa trả tiền gốc, chỉ trả được 36.000.000đ tiền lãi. Ông Chung khởi kiện yêu cầu chị Lệ trả toàn bộ số tiền gốc và lãi là 496.828.329đ.

Bị đơn chị Lệ trình bày: Chị có vay của ông Chung số tiền cụ thể: Lần 1: Ngày 14/11/2014 vay ông Chung 40.000.000đ; lần 2: Ngày 23/6/2014 vay 80.000.000đ; lần 3: Ngày 09/7/2014 vay 80.000.000đ. Tổng số tiền gốc chị vay ông Chung là 200.000.000đ. Đối với các giấy vay tiền mà ông Chung đưa ra thực chất là cộng cả gốc và lãi 03 lần vay nêu trên (lãi mẹ đẻ lãi con). Chị Lệ cho rằng những khoản tiền vay này để đầu tư vào chợ Bắc Sơn. Chị và ông Chung đã thỏa thuận số tiền chị vay ông Chung được khấu trừ vào tiền ông Chung thuê kiốt bán hàng của Công ty SIAAI. Sau khi đối trừ đến thời điểm này thì ông Chung còn nợ công ty SIAAI số tiền 528.000.000đ.

Tại Bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của TAND thị xã Phổ Yên tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Xuân Chung đối với bà Trần Tú Lệ. Về tiền gốc: Buộc bà Lệ trả cho ông Chung số tiền 408.000.000đ; tiền lãi 124.824.329đ, bà Lệ đã trả được 36.000.000đ…

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên: Áp dụng Khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS: Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lệ, hủy toàn bộ bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của TAND thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thẩm quyền.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đây cũng là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đ.T.H.L –  Phòng 9

ĐÁNH GIÁ ÁN DÂN SỰ BỊ HỦY, SỬA NGHIÊM TRỌNG TRONG BA NĂM QUA (2015, 2016, 2017)

19 Tháng Chín, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 với những nội dung mới hoàn thiện các chế định về năng lực hành vi dân sự, giám hộ và đại diện để bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của người chưa thành niên; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự, qua đó giúp họ được bình đẳng với chủ thể khác trong quan hệ dân sự… Bộ luật Dân sự đã cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.

Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 quy định những vấn đề liên quan đến: Những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật. Bộ luật tố tụng dân sự góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

Sau một thời gian đi vào thực tiễn, việc áp dụng các quy định của hai đạo luật trên vẫn còn nhiều bất cập, thiếu tính thống nhất dẫn đến chất lượng giải quyết án dân sự ở cấp sơ thẩm chưa cao. Tỷ lệ án bị hủy, sửa còn nhiều, trong khi đó số lượng kháng nghị phúc thẩm ngang cấp chưa tương xứng so với tổng số án bị hủy, sửa, đặc biệt có nhiều vụ án bị hủy có lỗi của Kiểm sát viên.

Phạm vi bài viết này chúng tôi đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát án dân sự ở Viện kiểm sát hai cấp ngành Kiểm sát Thái Nguyên trong ba năm (2015 – 2017), trong đó đặc biệt chú trọng khâu kiểm sát sau phiên tòa đối với cấp sơ thẩm.

Từ năm 2015 đến năm 2017, VKS tỉnh Thái Nguyên thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 330 vụ, việc. Tòa án đã xét xử: 269 vụ (trong đó sửa bản án sơ thẩm 106 vụ; hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại 64 vụ; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án 10 vụ).

Tồn tại, hạn chế của bản án, quyết định bị Tòa án tuyên hủy, sửa nghiêm trọng là do:

Thứ nhất, số vụ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan có trách nhiệm của VKS tuy giảm nhưng vẫn còn nhiều. Chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm của VKS cấp huyện chưa cao, vẫn còn có kháng nghị phúc thẩm đến khi xét xử phúc thẩm phải rút hoặc sửa đổi, bổ sung và còn nhiều vụ án bị hủy, sửa VKS không có kháng nghị hoặc kiến nghị. Nhiều văn bản kiến nghị của VKS nội dung không sâu, chủ yếu là kiến nghị vi phạm về thời hạn, việc chậm gửi các văn bản tố tụng, nên chất lượng và hiệu quả còn có những hạn chế nhất định; nhiều dạng vi phạm về nội dung và tố tụng không được khắc phục kịp thời và triệt để.

Thứ hai, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân công, phân nhiệm ở một số đơn vị cấp huyện còn chậm đổi mới, chưa có sự đầu tư bài bản, chuyên sâu về nghiệp vụ và chưa thật sự quyết liệt, tâm huyết với nhiệm vụ. Còn tình trạng coi nhẹ, nể nang. Nhiều đơn vị chỉ phân công một Kiểm sát viên phụ trách công tác này với vai trò làm việc kiêm nhiệm. Kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác này không nhiều.

Thứ ba, một số đơn vị cấp huyện khi kiểm sát giải quyết các tranh chấp phức tạp như: tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản; tranh chấp về thừa kế; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và sau khi ly hôn; tranh chấp về hợp đồng… còn lúng túng về kỹ năng nghiệp vụ, trình tự thủ tục tố tụng hoặc chưa nắm vững các quy định của pháp luật nội dung, dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật, không phát hiện hoặc chậm phát hiện vi phạm nên không kịp thời thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị.

Từ thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự trên địa bàn tỉnh thời gian qua, chúng tôi nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm có một số dạng vi phạm điển hình dẫn đến án bị hủy, sửa như: xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; không đưa đầy đủ người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; xác định sai tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; vi phạm về đại diện ủy quyền; thu thập chứng cứ không đầy đủ; áp dụng pháp luật nội dung không đúng quy định; tuyên vượt quá yêu cầu của đương sự; tính lãi suất, án phí không chính xác…

Dẫn đến vi phạm trên là do xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, công tác kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự chưa thật sự được coi trọng và đầu tư các nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt, nhất là đối với các đơn vị cấp huyện. Một số Kiểm sát viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; năng lực, trình độ chưa đồng đều (nhiều Kiểm sát viên mới bổ nhiệm được phân công làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự). Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có lúc, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ và khối lượng công việc cũng như sự đa dạng, tính chất phức tạp của án dân sự trong tình hình hiện nay. Còn tồn tại tâm lý nể nang, coi nhẹ nên thiếu sự chủ động, chậm đổi mới trong việc tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ; chưa nêu cao tinh thần học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, ít nghiên cứu văn bản pháp luật, không nắm bắt kịp thời hướng dẫn của cấp trên cũng như sự thay đổi trong chính sách pháp luật.

Bên cạnh đó, nguyên nhân khách quan do Trong những năm qua, các chính sách, văn bản pháp luật về đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình, dân sự có nhiều thay đổi; một số văn bản pháp luật mâu thuẫn, chưa được các cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhận thức, áp dụng pháp luật. Các vụ án bị hủy, sửa đa số là những vụ án có tính chất phức tạp, được điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp luật qua nhiều thời kỳ như lĩnh vực đất đai, nhà ở. Bên cạnh đó, một số địa phương thường xuyên có biến động về đất đai, giá trị quyền sử dụng đất tăng đột biến; công tác quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một nơi còn nhiều sai sót trong đo đạc, cấp chồng chéo các thửa đất, cấp đất không đúng diện tích thực tế sử dụng… dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất ngày càng gay gắt, phức tạp. Việc hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp đất đai còn mang tính hình thức, chưa được chú trọng đúng mức, một số nơi tiến hành hòa giải không đúng thành phần, tiến hành hòa giải và lập biên bản hòa giải cả khi không có sự tham gia đầy đủ của các bên đương sự. Một số cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai không cung cấp được chứng cứ cho Tòa án, dẫn đến việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở cấp sơ thẩm gặp nhiều khó khăn.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới, thời gian tới, VKSND tỉnh tiếp tục quán triệt các quy định của pháp luật, chỉ thị, hướng dẫn của Ngành về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Tăng cường công tác phối kết hợp giữa các cấp Kiểm sát, giữa hai ngành Toà án và VKS cũng như với các cơ quan hữu quan trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo Viện và phòng nghiệp vụ trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, đặc biệt chú trọng đến công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ đối với VKSND các huyện, thành phố, thị xã. Bên cạnh đó, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án. Cán bộ, Kiểm sát viên không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn; tích lũy kinh nghiệm, tích cực nghiên cứu các điểm mới trong các đạo luật có liên quan đến công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, thống nhất nhận thức và hoạt động. Thực hiện nhiều biện pháp sáng tạo trong công việc như trong việc tra cứu văn bản, ứng dụng công nghệ thông tin… đảm bảo thuận lợi và hiệu quả công tác. Phát huy tinh thần tự giác, tích cực học tập nghiên cứu các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự.

 Đ.T.H.L – Phòng 9

VKS hai cấp tỉnh Thái Nguyên tăng cường kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định sơ thẩm nhằm hạn chế án bị hủy, sửa nghiêm trọng do lỗi của Kiểm sát viên

14 Tháng Chín, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Để khắc phục tình trạng án bị hủy, sửa nhiều, VKSND hai cấp cần có biện pháp tác động kịp thời với Tòa án cùng cấp, trong đó tăng cường kiểm sát bản án, quyết định sau phiên tòa.

Phòng 9 – VKSND tỉnh thái Nguyên vừa ban hành thông báo rút kinh nghiệm qua tổng hợp kết quả giải quyết vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình bị kháng cáo, kháng nghị, bị hủy, sửa theo thủ tục phúc thẩm trong quý III – 2018.

Theo đó, trong quý III – 2018, tổng số án bị hủy là 04 vụ (hủy xét xử lại 03 vụ), tập trung vào hai đơn vị Võ Nhai và Định Hóa.

Về án bị sửa có 10 vụ (sửa theo thỏa thuận của đương sự là 04 vụ).

Nguyên nhân hủy, sửa án sơ thẩm là do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án thu thập chứng cứ chưa toàn diện, không đưa đầy đủ người tham gia tố tụng dẫn đến áp dụng pháp luật thiếu chính xác. Bên cạnh đó, sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự có kháng cáo, khiếu nại tại cấp phúc thẩm, các đương sự cung cấp tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên phải hủy án.

Để kịp thời khắc phục những tồn tại trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự, Phòng 9 ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi đến các VKS cấp huyện cùng trao đổi đề ra các biện pháp tích cực nhằm thực hiện tốt công tác kiểm sát dân sự.

Theo đó, VKS cần thực hiện tốt công tác kiểm sát thụ lý, kiểm tra việc Tòa án đưa đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS hay không, quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm có hợp pháp hay không. Ngoài ra, kiểm tra việc đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm có khách quan không. Kết hợp chặt chẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa, phiên họp; kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án để kịp thời phát hiện vi phạm, thực hiện thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị theo thẩm quyền, nhằm hạn chế tối đa việc Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy án mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

 Đ.T.H.L – Phòng 9

Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân

27 Tháng Bảy, 2018 Thông Tin Tuyên Truyền

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhấtlà chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND).

Là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”(khoản 1 Điều 21 BLTTDS).

Công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự được quy định tại khoản 5 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Trên cơ sở đó, VKS có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng (khoản 7 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND).

Theo quy định của BLTTDS, VKS thực hiện quyền kiểm sát đối với các quyết định sau: Quyết định chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác (Điều 41); Quyết định nhập hoặc tách vụ án (Điều 42); Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 140); Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự (Điều 216); Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 220); Quyết định hoãn phiên tòa (Điều 233)… Khi nhận được các quyết định trên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công phải vào sổ thụ lý theo từng loại quyết định, lập phiếu kiểm sát để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định như: thời hạn Tòa án gửi quyết định cho VKS, trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức của các quyết định theo đúng hướng dẫn tại Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự của Viện trưởng VKSND Tối cao (sau đây gọi tắt là Quy chế 364). Trường hợp phát hiện vi phạm phải kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện để xem xét thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định pháp luật.

Đối với việc kiểm sát các quyết định: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212); tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214); đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 217); bản án sơ thẩm (Điều 266 đến Điều 269) được thực hiện theo quy định tại Điều 16, 17, 18 và Điều 26 Quy chế 364. Khi nhận được các quyết định, bản án nói trên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải lập phiếu kiểm sát, kiểm sát chặt chẽ về thời hạn gửi, căn cứ, thẩm quyền ban hành, nội dung, hình thức của bản án, quyết định. Nếu xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc thì yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2016. Trường hợp phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để xem xét kháng nghị hoặc kiến nghị theo thẩm quyền. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp thì báo cáo Lãnh đạo VKS cấp trên trực tiếp xem xét kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền. Khi xét thấy cần thiết phải thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo Lãnh đạo Viện để thực hiện quyền thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện vi phạm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên đề xuất với Lãnh đạo Viện để báo cáo VKS có thẩm quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thực tiễn công tác kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời gian qua tại nhiều đơn vị VKSND cấp huyện, nhận thấy còn nhiều thiếu sót như: Phiếu kiểm sát ban hành không đúng mẫu quy định của VKSND Tối cao, không đầy đủ các nội dung yêu cầu kiểm sát hoặc không có phần nội dung kiểm sát của VKS cấp phúc thẩm; chất lượng kiểm sát bản án, quyết định còn rất thấp, không phát hiện được vi phạm để thực hiện quyền yêu cầu, kháng nghị, kiến nghị dẫn tới hạn chế chức năng của VKSND.

Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do áp dụng quy định pháp luật còn thiếu thống nhất; một số vụ, việc do tính chất phức tạp, nếu chỉ thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định rất khó phát hiện được vi phạm của Tòa án, đòi hỏi phải có hồ sơ vụ, việc hoặc trực tiếp tham gia kiểm sát hoặc phải có đơn khiếu nại, đề nghị của đương sự thì mới có thể nghiên cứu phát hiện được vi phạm, thiếu sót của Tòa án, điều đó cũng làm hạn chế công tác kiểm sát bản án, quyết định.

Nguyên nhân chủ quan là do trình độ năng lực của Kiểm sát viên còn hạn chế; công tác kiểm sát dân sự ở nhiều đơn vị cấp huyện chưa được quan tâm, chú trọng; VKS và Kiểm sát viên còn nể nang, né tránh đối với Tòa án cùng cấp; một số đơn vị VKS cấp huyện không gửi bản án, quyết định lên VKS cấp trên hoặc gửi chậm dẫn đến làm mất quyền hoặc không đủ thời gian để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm; nhiều Kiểm sát viên còn chưa chú trọng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.

Nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, thực hiện có hiệu quả chức năng của ngành KSND, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của VKSND tối cao “Về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự…” để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Muốn làm được điều đó, Lãnh đạo đơn vị phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; tạo điều kiện để cán bộ, Kiểm sát viên được tập huấn, nghiên cứu, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.

Hai là: Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện nghiêm quy định của pháp luật trong khi thực thi nhiệm vụ. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải kiểm tra nội dung các bản án, quyết định của Tòa, xem xét hình thức văn bản có đúng với mẫu của TAND Tối cao ban hành hay không. Đối với các vụ việc Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa, phiên họp, quá trình kiểm sát thấy cần thiết thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi kiểm sát các quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự đối với những vụ việc phức tạp thì Kiểm sát viên nên xem xét biên bản hòa giải, thời gian lập biên bản, nội dung thỏa thuận của các đương sự có phù hợp với các quy định pháp luật hay không, có khả thi trong việc thi hành hay không. Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ cần kiểm sát các căn cứ pháp luật để ra quyết định, hình thức có đúng mẫu không, hậu quả của việc tạm đình chỉ, đình chỉ Tòa án quyết định như thế nào…

Ba là: Khi kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, Kiểm sát viên phải lập phiếu kiểm sát đúng mẫu của VKSND Tối cao, đồng thời phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm kèm theo phiếu kiểm sát bản án, quyết định cho VKS cấp phúc thẩm đúng mẫu quy định, đầy đủ và kịp thời. Nếu phát hiện vi phạm, Kiểm sát viên phải kịp thời báo cáo lãnh đạo phụ trách về đường lối xử lý.

Bốn là: VKS cấp tỉnh (Phòng 9) phải tăng cường kiểm sát bản án, quyết định do VKS cấp sơ thẩm gửi lên, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng thì phải kháng nghị phúc thẩm kịp thời. Trường hợp vụ, việc phức tạp thì cần rút hồ sơ của Tòa án cấp huyện để nghiên cứu. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm thì phải báo cáo VKSND cấp cao xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. VKS cấp tỉnh cần làm tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ cho VKS cấp dưới.

Mặt khác, để khắc phục tình trạng VKS cấp huyện gửi không đầy đủ hoặc không kịp thời bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp cho VKS cấp tỉnh, thì VKS cấp tỉnh cần phải mở sổ theo dõi việc tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện; hàng tháng, hàng quý tổng hợp, so sánh, đối chiếu với số liệu thống kê của VKS cấp huyện hoặc thông qua hồ sơ vụ án phúc thẩm để xác định bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện có được VKS cấp huyện gửi cho VKS cấp tỉnh hay không. Trên cơ sở đó, hàng năm, VKS cấp tỉnh phải tổ chức kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát bản án, quyết định, để thấy được ưu điểm và hạn chế nhằm đề ra giải pháp phù hợp; cần ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi các đơn vị cấp huyện để nghiên cứu nhằm khắc phục các vi phạm, thiếu sót, nâng cao chất lượng kiểm sát bản án, quyết định.

Đ.T.H.L – Phòng 9

RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ

24 Tháng Bảy, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm, Phòng 9 – Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thái Nguyên nhận thấy một số đơn vị VKSND cấp huyện chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự (Quy chế 364) về việc gửi văn bản phát biểu của Kiểm sát viên cho Tòa án và sao gửi bản án sơ thẩm kèm theo Phiếu kiểm sát bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm. Sau đây, chúng tôi nêu lên vụ việc cụ thể để bạn đọc cùng  trao đổi, rút kinh nghiệm.

Vụ án “Tranh chấp số tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất” giữa Nguyên đơn Hoàng Thị Thanh – Bị đơn Dương Văn Bích, “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa Trần Văn Tám – Trần Đốc do Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Thái Nguyên thụ lý giải quyết; vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất” giữa bà Nguyễn Thị Lộc – ông Dương Văn Khôi và bà Dương Thị Thạch, do TAND thành phố Sông Công thụ lý giải quyết.

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ phúc thẩm và theo dõi việc sao gửi bản án của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm, Phòng 9 nhận thấy các Kiểm sát viên được phân công kiểm sát đã vi phạm Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự về việc gửi văn bản phát biểu của Kiểm sát viên cho Tòa án sau khi kết thúc phiên tòa, vi phạm khoản 5 Điều 26 Quy chế 364 về việc sao gửi bản án sơ thẩm kèm theo Phiếu kiểm sát bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm.

Đánh giá vi phạm nêu trên của Kiểm sát viên cấp sơ thẩm là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân, mặt khác, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thi đua của mỗi cá nhân, đơn vị. Vì vậy, nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, Phòng 9 đã ban hành các thông báo rút kinh nghiệm gửi đến các Viện kiểm sát cấp huyện tỉnh Thái Nguyên cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

Từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất đến Viện kiểm sát các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nên xây dựng kế hoạch tự kiểm tra định kỳ trong kế hoạch công tác năm và xây dựng tiêu chí đánh giá ý thức trách nhiệm trong đăng ký thi đua hàng năm. Với mỗi Kiểm sát viên phải thường xuyên tự giác nêu cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được phân công. Lãnh đạo đơn vị phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; tạo điều kiện để cán bộ, Kiểm sát viên được tập huấn, nghiên cứu, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.

Đ.T.H.L – Phòng 9

PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

23 Tháng Bảy, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 13/7/2018 Phòng 9 – VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm vụ án“Bồi thường thiệt hại sức khỏe” giữa: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Hồng Bị đơn ông Nguyễn Mạnh Cường, cùng trú tại xóm Thượng, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vụ án do Kiểm sát viên Lê Thị Hương Giang trực tiếp kiểm sát xét xử.

Tham dự phiên tòa có Lãnh đạo và các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Nội dung vụ án: Khoảng 15 giờ ngày 30/9/2015 anh Hồng và anh Cường xem đánh cá ở bờ ao Xóm Thượng, xã Thuận Thành thì xảy ra mâu thuẫn. Anh Hồng lấy 01 que sắt có đầu nhọn dài khoảng 20cm, dùng tay phải đâm 01 nhát vào bụng anh Cường làm anh Cường bị thương. Sau đó anh Cường nhặt ½ viên gạch quay lại và ném trúng vào đầu anh Hồng làm Hồng bị chấn thương sọ não, vỡ xương sọ vùng trán, tỷ lệ tổn thương theo kết luận giám định là 21%. Anh Hồng khởi kiện yêu cầu anh Cường bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần và các chi phí điều trị.

Tại Bản án sơ thẩm số 04 ngày 20/7/2017 của TAND thị xã Phổ Yên tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hồng đối với anh Cường về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; buộc anh Cường có trách nhiệm bồi thường cho anh Hồng số tiền 8.963.000đ. Không chấp nhận yêu cầu của anh Hồng về việc đòi anh Cường bồi thường tiền thuốc và các chi phí khác…

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được TAND tỉnh Thái Nguyên đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã làm tốt công tác chuẩn bị. Tại phiên tòa thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử vụ án dân sự.

Hội đồng xét xử đã tuyên: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm của TAND thị xã Phổ Yên, phù hợp với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Kết thúc phiên toà, Phòng 9 đã tổ chức họp rút kinh nghiệm, bên cạnh việc ghi nhận những ưu điểm, đơn vị cũng đã chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên những kỹ năng và nhận thức khi giải quyết các vụ việc theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây cũng là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao kỹ năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đ.T.H.L – Phòng 9