Phòng 10 ban hành Thông báo rút kinh nghiệm về kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

12-05-2022 16:50

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại theo thủ tục phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thái Nguyên nhận thấy việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh” giữa nguyên đơn Công ty F, bị đơn bà H và ông A của Tòa án nhân dân T tại Bản án số 12/2021/KDTM-ST ngày 01/11/2021 có vi phạm, cần thông báo rút kinh nghiệm như sau:

Ngày 15/3/2016 Chi nhánh Công ty F tại Thái Nguyên (bên B) và ông A, bà H (bên A) ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 15.03.2016/HĐHTKD-FRT.TNN5. Theo đó bên A góp gian quầy diện tích 140m2 gồm 2 tầng các ki ốt 3, 4, 5, 6 tại địa chỉ chợ T, bên B góp cơ sở vật chất, hàng hóa và được chủ động hoàn toàn trong việc sản xuất kinh doanh các mặt hàng điện tử, điện thoại, máy tính, các sản phẩm công nghệ thông tin theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của bên B. Hình thức phân chia doanh thu kinh doanh: Bên A được hưởng doanh thu cố định không phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh là 35.000.000đ/tháng, thanh toán 12 tháng/lần trong vòng 07 ngày đầu kỳ. Bên B thực hiện thay nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và tự thanh toán các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như: điện, nước, điện thoại, internet… Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, bên B đặt cọc cho bên A số tiền 35.000.000đ.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngày 12/4/2016 công ty đã chuyển khoản số tiền đặt cọc 35.000.000đ vào tài khoản số 101010006035072 của ông A tại Ngân hàng công thương chi nhánh Thái Nguyên. Công ty đã thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Kỳ thanh toán từ ngày 06/5/2018 đến ngày 06/5/2019 đã được công ty thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 07/5/2018, số tiền 420.000.000đ.

Do hoạt động kinh doanh không hiệu quả, ngày 13/6/2018 Chi nhánh Công ty F (viết tắt là công ty) có gửi Công văn số 227/FRT-FAD về việc chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 15.03.2016/HĐHTKD-FRT.TNN5 (theo thỏa thuận tại khoản 6.2 Điều 6 Hợp đồng). Công văn này được nhân viên của công ty đem đến tận nhà riêng của bà H, ông A tại tầng 2 shop số 1, đường 03/02 Tích Lương để trao đổi và gửi đến tận tay cả 2 vợ chồng vào ngày 17/6/2018.

Ngày 30/6/2018, nhân viên của công ty đã thực hiện việc bàn giao lại các ki ốt nêu trên, bà H là người trực tiếp nhận lại. Để hoàn thiện các thủ tục, ngày 28/7/2018, nhân viên của công ty đã chuyển biên bản bàn giao nhà (đề ngày bàn giao 30/6/2018) và chuyển biên bản thanh lý hợp đồng theo nội dung đã thỏa thuận và bà H ký xác nhận trên biên bản bàn giao nhà nhưng từ chối ký biên bản thanh lý hợp đồng với lý do không đồng ý về số liệu ghi trên biên bản thanh lý. Buổi làm việc ngày 28/7/2018 diễn ra tại nhà riêng bà H và ông A, có mặt cả 2 ông bà nhưng ông A không ký vào biên bản bàn giao nhà cũng như biên bản thanh lý hợp đồng mặc dù có xem nội dung biên bản.

Ngày 06/7/2020, Công ty khởi kiện yêu cầu TAND T buộc ông A, bà H hoàn trả cho công ty khoản tiền đã đặt cọc theo hợp đồng; buộc ông A, bà H hoàn trả khoản tiền công ty đã thanh toán trước nhưng chưa sử dụng và lãi suất chậm trả của toàn bộ số tiền nên trên theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468/BLDS đến ngày xét xử sơ thẩm (01/11/2021). Cụ thể:

- Tiền đặt cọc: 35.000.000 đồng;

- Tiền lợi nhuận thanh toán trước: 244.808.219 đồng;

- Tiền lãi: 85.734.881 đồng (trong đó: Tiền lãi của số tiền 244.808.219đ tính từ ngày 15/10/2018 đến ngày 28/10/2021 là 74.381.456đ; tiền lãi của số tiền đặt cọc 35.000.000đ tính từ ngày 01/8/2018, sau thời hạn 01 tháng kể từ ngày kết thúc hợp đồng đến ngày 28/10/2021 là 11.353.425đ). Tổng cộng: 365.543.100 đồng.

Tại Bản án số 12/2021/KDTM-ST ngày 01/11/2021 của Tòa án nhân dân T quyết định:

Áp dụng Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 269, Điều 271, khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Điều 504, 505, 506, 507, 508, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần F về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh” đối với bà H và ông A.

2. Buộc bà H và ông A phải có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty cổ phần F tổng số tiền là 246.414.551 đồng. Trong đó: Tiền đặt cọc là 35.000.000đ; số tiền đã thanh toán trước nhưng chưa sử dụng tính từ ngày 18/9/2018 đến ngày 06/5/2019 số tiền là: 153.904.110đ; tiền lãi chậm trả: 57.510.441đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

4. Về án phí: Bà H và ông A phải liên đới nộp 12.320.727 đồng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.

Hoàn trả lại Công ty số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.000.000 đồng theo biên lai số 0003719 ngày 03/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự T.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, thi hành án của các đương sự trong vụ án.

Xét thấy Bản án số 12/2021/KDTM-ST ngày 01/11/2021 của Tòa án nhân dân T vi phạm trong việc áp dụng pháp luật dẫn tới giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và của Nhà nước. Ngày 16/11/2021, Viện trưởng VKSND T ban hành Quyết định số 01/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với bản án nêu trên của Tòa án nhân dân  T.

Trong các ngày 05, 08/4/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử theo trình tự phúc phẩm. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên Tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát; sửa một phần bản án sơ thẩm số 12/2021/KDTM-ST ngày 01/11/2021 của Tòa án nhân dân T.

Những vẫn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm về việc xem xét từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án:

Công ty khởi kiện yêu cầu ông A, bà H hoàn trả tổng số tiền 365.542.437 đồng (Trong đó: tiền đặt cọc theo hợp đồng là 35.000.000 đồng; tiền Công ty đã thanh toán trước cho ông A và bà H nhưng chưa sử dụng tính từ ngày 01/7/2018 đến ngày 06/5/2019 là 244.808.219 đồng; tiền lãi là 85.734.219 đồng). Tại phần quyết định của Bản án, Tòa án tuyên xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty, buộc ông A và bà H phải trả cho Công ty số tiền 246.414.551 đồng (Trong đó: Tiền đặt cọc là 35.000.000 đồng; số tiền đã thanh toán trước nhưng chưa sử dụng tính từ ngày 18/9/2018 đến ngày 06/5/2019 là: 153.904.110 đồng; tiền lãi chậm trả: 57.510.441 đồng). Tuy nhiên đối với phần yêu cầu khởi kiện của Công ty không được chấp nhận là 119.128.549 đồng, Tòa án không xem xét và quyết định là vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự và không đúng biểu mẫu số 52-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

2. Không buộc nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận:

Đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không buộc nguyên đơn phải chịu án phí là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTDS và khoản 1, 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Cụ thể trong vụ án này, số tiền án phí sơ thẩm công ty cổ phần F phải chịu tương ứng với số tiền công ty khởi kiện nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là 119.128.549 đồng x 5% = 5.956.427 đồng.

Trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Kiểm sát viên được phân công đã kịp thời phát hiện vi phạm của Tòa án, tham mưu cho Viện trưởng VKSND TP Thái Nguyên ban hành kháng nghị theo trình tự phúc thẩm là đã thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, VKSND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm đến VKSND các huyện, thành phố cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tương tự.

                                                                              

Lý Hòa
Phòng 10

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN

Cơ quan chủ quản: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Địa chỉ: Số 9, đường Cách mạng tháng 8, TP.Thái Nguyên, T.Thái Nguyên. Email: thukybientap@gmail.com

Ghi rõ nguồn tin "VKSND tỉnh Thái Nguyên" khi phát hành lại thông tin từ website này

Thống kê truy cập

Đang truy cập: 5898

Tổng truy cập: 1262339