Tag Archives: phòng 9

Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân

27 Tháng Bảy, 2018 Thông Tin Tuyên Truyền

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhấtlà chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND).

Là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”(khoản 1 Điều 21 BLTTDS).

Công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự được quy định tại khoản 5 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Trên cơ sở đó, VKS có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng (khoản 7 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND).

Theo quy định của BLTTDS, VKS thực hiện quyền kiểm sát đối với các quyết định sau: Quyết định chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác (Điều 41); Quyết định nhập hoặc tách vụ án (Điều 42); Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 140); Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự (Điều 216); Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 220); Quyết định hoãn phiên tòa (Điều 233)… Khi nhận được các quyết định trên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công phải vào sổ thụ lý theo từng loại quyết định, lập phiếu kiểm sát để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định như: thời hạn Tòa án gửi quyết định cho VKS, trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức của các quyết định theo đúng hướng dẫn tại Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự của Viện trưởng VKSND Tối cao (sau đây gọi tắt là Quy chế 364). Trường hợp phát hiện vi phạm phải kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện để xem xét thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định pháp luật.

Đối với việc kiểm sát các quyết định: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212); tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214); đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 217); bản án sơ thẩm (Điều 266 đến Điều 269) được thực hiện theo quy định tại Điều 16, 17, 18 và Điều 26 Quy chế 364. Khi nhận được các quyết định, bản án nói trên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải lập phiếu kiểm sát, kiểm sát chặt chẽ về thời hạn gửi, căn cứ, thẩm quyền ban hành, nội dung, hình thức của bản án, quyết định. Nếu xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc thì yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2016. Trường hợp phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để xem xét kháng nghị hoặc kiến nghị theo thẩm quyền. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp thì báo cáo Lãnh đạo VKS cấp trên trực tiếp xem xét kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền. Khi xét thấy cần thiết phải thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo Lãnh đạo Viện để thực hiện quyền thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện vi phạm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên đề xuất với Lãnh đạo Viện để báo cáo VKS có thẩm quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thực tiễn công tác kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời gian qua tại nhiều đơn vị VKSND cấp huyện, nhận thấy còn nhiều thiếu sót như: Phiếu kiểm sát ban hành không đúng mẫu quy định của VKSND Tối cao, không đầy đủ các nội dung yêu cầu kiểm sát hoặc không có phần nội dung kiểm sát của VKS cấp phúc thẩm; chất lượng kiểm sát bản án, quyết định còn rất thấp, không phát hiện được vi phạm để thực hiện quyền yêu cầu, kháng nghị, kiến nghị dẫn tới hạn chế chức năng của VKSND.

Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do áp dụng quy định pháp luật còn thiếu thống nhất; một số vụ, việc do tính chất phức tạp, nếu chỉ thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định rất khó phát hiện được vi phạm của Tòa án, đòi hỏi phải có hồ sơ vụ, việc hoặc trực tiếp tham gia kiểm sát hoặc phải có đơn khiếu nại, đề nghị của đương sự thì mới có thể nghiên cứu phát hiện được vi phạm, thiếu sót của Tòa án, điều đó cũng làm hạn chế công tác kiểm sát bản án, quyết định.

Nguyên nhân chủ quan là do trình độ năng lực của Kiểm sát viên còn hạn chế; công tác kiểm sát dân sự ở nhiều đơn vị cấp huyện chưa được quan tâm, chú trọng; VKS và Kiểm sát viên còn nể nang, né tránh đối với Tòa án cùng cấp; một số đơn vị VKS cấp huyện không gửi bản án, quyết định lên VKS cấp trên hoặc gửi chậm dẫn đến làm mất quyền hoặc không đủ thời gian để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm; nhiều Kiểm sát viên còn chưa chú trọng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.

Nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, thực hiện có hiệu quả chức năng của ngành KSND, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của VKSND tối cao “Về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự…” để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Muốn làm được điều đó, Lãnh đạo đơn vị phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; tạo điều kiện để cán bộ, Kiểm sát viên được tập huấn, nghiên cứu, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.

Hai là: Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện nghiêm quy định của pháp luật trong khi thực thi nhiệm vụ. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải kiểm tra nội dung các bản án, quyết định của Tòa, xem xét hình thức văn bản có đúng với mẫu của TAND Tối cao ban hành hay không. Đối với các vụ việc Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa, phiên họp, quá trình kiểm sát thấy cần thiết thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi kiểm sát các quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự đối với những vụ việc phức tạp thì Kiểm sát viên nên xem xét biên bản hòa giải, thời gian lập biên bản, nội dung thỏa thuận của các đương sự có phù hợp với các quy định pháp luật hay không, có khả thi trong việc thi hành hay không. Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ cần kiểm sát các căn cứ pháp luật để ra quyết định, hình thức có đúng mẫu không, hậu quả của việc tạm đình chỉ, đình chỉ Tòa án quyết định như thế nào…

Ba là: Khi kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, Kiểm sát viên phải lập phiếu kiểm sát đúng mẫu của VKSND Tối cao, đồng thời phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm kèm theo phiếu kiểm sát bản án, quyết định cho VKS cấp phúc thẩm đúng mẫu quy định, đầy đủ và kịp thời. Nếu phát hiện vi phạm, Kiểm sát viên phải kịp thời báo cáo lãnh đạo phụ trách về đường lối xử lý.

Bốn là: VKS cấp tỉnh (Phòng 9) phải tăng cường kiểm sát bản án, quyết định do VKS cấp sơ thẩm gửi lên, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng thì phải kháng nghị phúc thẩm kịp thời. Trường hợp vụ, việc phức tạp thì cần rút hồ sơ của Tòa án cấp huyện để nghiên cứu. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm thì phải báo cáo VKSND cấp cao xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. VKS cấp tỉnh cần làm tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ cho VKS cấp dưới.

Mặt khác, để khắc phục tình trạng VKS cấp huyện gửi không đầy đủ hoặc không kịp thời bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp cho VKS cấp tỉnh, thì VKS cấp tỉnh cần phải mở sổ theo dõi việc tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện; hàng tháng, hàng quý tổng hợp, so sánh, đối chiếu với số liệu thống kê của VKS cấp huyện hoặc thông qua hồ sơ vụ án phúc thẩm để xác định bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện có được VKS cấp huyện gửi cho VKS cấp tỉnh hay không. Trên cơ sở đó, hàng năm, VKS cấp tỉnh phải tổ chức kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát bản án, quyết định, để thấy được ưu điểm và hạn chế nhằm đề ra giải pháp phù hợp; cần ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi các đơn vị cấp huyện để nghiên cứu nhằm khắc phục các vi phạm, thiếu sót, nâng cao chất lượng kiểm sát bản án, quyết định.

Đ.T.H.L – Phòng 9

RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ

24 Tháng Bảy, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm, Phòng 9 – Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thái Nguyên nhận thấy một số đơn vị VKSND cấp huyện chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự (Quy chế 364) về việc gửi văn bản phát biểu của Kiểm sát viên cho Tòa án và sao gửi bản án sơ thẩm kèm theo Phiếu kiểm sát bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm. Sau đây, chúng tôi nêu lên vụ việc cụ thể để bạn đọc cùng  trao đổi, rút kinh nghiệm.

Vụ án “Tranh chấp số tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất” giữa Nguyên đơn Hoàng Thị Thanh – Bị đơn Dương Văn Bích, “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa Trần Văn Tám – Trần Đốc do Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Thái Nguyên thụ lý giải quyết; vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất” giữa bà Nguyễn Thị Lộc – ông Dương Văn Khôi và bà Dương Thị Thạch, do TAND thành phố Sông Công thụ lý giải quyết.

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ phúc thẩm và theo dõi việc sao gửi bản án của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm, Phòng 9 nhận thấy các Kiểm sát viên được phân công kiểm sát đã vi phạm Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự về việc gửi văn bản phát biểu của Kiểm sát viên cho Tòa án sau khi kết thúc phiên tòa, vi phạm khoản 5 Điều 26 Quy chế 364 về việc sao gửi bản án sơ thẩm kèm theo Phiếu kiểm sát bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm.

Đánh giá vi phạm nêu trên của Kiểm sát viên cấp sơ thẩm là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân, mặt khác, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thi đua của mỗi cá nhân, đơn vị. Vì vậy, nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, Phòng 9 đã ban hành các thông báo rút kinh nghiệm gửi đến các Viện kiểm sát cấp huyện tỉnh Thái Nguyên cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

Từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất đến Viện kiểm sát các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nên xây dựng kế hoạch tự kiểm tra định kỳ trong kế hoạch công tác năm và xây dựng tiêu chí đánh giá ý thức trách nhiệm trong đăng ký thi đua hàng năm. Với mỗi Kiểm sát viên phải thường xuyên tự giác nêu cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được phân công. Lãnh đạo đơn vị phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; tạo điều kiện để cán bộ, Kiểm sát viên được tập huấn, nghiên cứu, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện.

Đ.T.H.L – Phòng 9

PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

23 Tháng Bảy, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 13/7/2018 Phòng 9 – VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm vụ án“Bồi thường thiệt hại sức khỏe” giữa: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Hồng Bị đơn ông Nguyễn Mạnh Cường, cùng trú tại xóm Thượng, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vụ án do Kiểm sát viên Lê Thị Hương Giang trực tiếp kiểm sát xét xử.

Tham dự phiên tòa có Lãnh đạo và các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Nội dung vụ án: Khoảng 15 giờ ngày 30/9/2015 anh Hồng và anh Cường xem đánh cá ở bờ ao Xóm Thượng, xã Thuận Thành thì xảy ra mâu thuẫn. Anh Hồng lấy 01 que sắt có đầu nhọn dài khoảng 20cm, dùng tay phải đâm 01 nhát vào bụng anh Cường làm anh Cường bị thương. Sau đó anh Cường nhặt ½ viên gạch quay lại và ném trúng vào đầu anh Hồng làm Hồng bị chấn thương sọ não, vỡ xương sọ vùng trán, tỷ lệ tổn thương theo kết luận giám định là 21%. Anh Hồng khởi kiện yêu cầu anh Cường bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần và các chi phí điều trị.

Tại Bản án sơ thẩm số 04 ngày 20/7/2017 của TAND thị xã Phổ Yên tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hồng đối với anh Cường về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; buộc anh Cường có trách nhiệm bồi thường cho anh Hồng số tiền 8.963.000đ. Không chấp nhận yêu cầu của anh Hồng về việc đòi anh Cường bồi thường tiền thuốc và các chi phí khác…

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được TAND tỉnh Thái Nguyên đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã làm tốt công tác chuẩn bị. Tại phiên tòa thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử vụ án dân sự.

Hội đồng xét xử đã tuyên: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm của TAND thị xã Phổ Yên, phù hợp với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Kết thúc phiên toà, Phòng 9 đã tổ chức họp rút kinh nghiệm, bên cạnh việc ghi nhận những ưu điểm, đơn vị cũng đã chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên những kỹ năng và nhận thức khi giải quyết các vụ việc theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây cũng là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao kỹ năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đ.T.H.L – Phòng 9

 

TÒA ÁN RA QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ HAY RA QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN

16 Tháng Bảy, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định các trường hợp  đình chỉ giải vụ án dân sự tại Điều 217 và quy định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại Điều 212. Tuy nhiên các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự hiểu và áp dụng chưa thống nhất dẫn đến ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Để bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự của ngành Kiểm sát nhân dân, chúng tôi xin nêu các quan điểm khác nhau thông qua một vụ án cụ thể để các đồng chí cùng trao đổi, nhận thức.

Ngày 27/3/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án về hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bị đơn anh Đào Viết C. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngày 05/4/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành hòa giải, kết quả chị H và anh C nhất trí đoàn tụ và không yêu cầu giải quyết ly hôn, Tòa án đã lập biên bản hòa giải thành. Ngày 13/4/2018, Tòa án thành phố Thái Nguyên ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nội dung về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C nhất trí đoàn tụ để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc…về án phí: Chị H nhận nộp 150.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Chúng tôi thấy Quyết định giải quyết vụ án HNGĐ trên của Tòa án thành phố Thái Nguyên có nhiều bất cập, ảnh hưởng tới quyền dân sự và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhưng theo quy định của pháp luật thì Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị phúc thẩm và không đủ điều kiện để kháng nghị giám đốc thẩm. thông qua bài viết chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp, trao đổi thống nhất quan điểm giải quyết.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 212 Bộ luật dân sự thì “Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án”. Xem xét nội dung vụ án trên thấy rằng chị H yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ HNGĐ gồm: quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, quan hệ con chung…nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải, tại phiên hòa giải chị H và anh C đồng ý về đoàn tụ với nhau. Chị H và anh C về đoàn tụ với nhau đồng nghĩa với việc Tòa án không phải giải quyết những tranh chấp về ly hôn, chia tài sản chung, nuôi con chung… như chị H đã yêu cầu. Như vậy không thể coi việc chị H và anh C nhất trí đoàn tụ là việc đã thống nhất về việc giải quyết toàn bộ vụ án được.

Việc chị H nhất trí về đoàn tụ với anh C cũng đồng nghĩa với nguyện vọng của nguyên đơn là không giải quyết các yêu cầu của mình nữa. Điều này phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLDS về đình chỉ vụ án trong trường hợp “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện”.

Xét về hậu quả pháp lý:

Thứ nhất về quyền dân sự: Nếu Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp chị H và anh C đồng ý về đoàn tụ thì đây là quyết định bắt buộc thi hành đối với chị H và anh C. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì khi vụ án đã được giải quyết bằng một bản án hoặc một quyết định có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại vụ án (trừ trường hợp Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn). Nếu Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLDS thì chị H và anh C hoàn toàn có quyền khởi kiện lại vụ án tại bất cứ thời điểm nào.

Thứ hai là về lợi ích: Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì đương sự phải nộp án phí theo quy định, còn nếu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 217, thì đương sự được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Như vậy về hậu quả pháp lý, nếu Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự sẽ không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Theo tôi đây là một bất cập trong quy định của pháp luật nên cần sửa đổi, bổ sung quy định về việc khi hòa giải, vợ, chồng đoàn tụ thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án tương tự như quy định tại khoản 3 Điều 397 BLDS về giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.

Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự thấy rằng: Trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự 2004, thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn tại Nghị quyết số 02 ngày 23/12/2000 (mục 10) đối với trường hợp khi hòa giải các đương sự đồng ý về đoàn tụ thì Tòa án ra “Quyết định công nhận đoàn tụ thành”. Tuy nhiên hướng dẫn này không còn giá trị khi Bộ luật tố tụng dân sự 2004 có quy định phải đình chỉ vụ án trong trường hợp “Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án” (điểm đ khoản 1 Điều 192). Cho đến nay Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thay thế Bộ luật tố tụng dân sự 2004 không đưa quy định trên vào điều luật. Tại Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ cũng nêu rõ: “Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn, nếu sau khi hòa giải, vợ, chồng thống nhất đoàn tụ thì cần xác định đây là trường hợp nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện. Tòa án căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.

Quan điểm của tôi là: Đối với những vụ án giải quyết yêu cầu ly hôn, khi Tòa án tiến hành hòa giải mà vợ, chồng nhất trí đoàn tụ như nêu trên thì Tòa án cần phải áp dụng đúng tinh thần của Bộ luật tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ vụ án mới bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Trên đây là vướng mắc về quan điểm trong thực tiễn giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình và thực hiện chức năng kiểm sát của ngành kiểm sát nhân dân. Rất mong nhận được sự trao đổi của các đồng chí nhằm thực hiện tốt hơn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình.

                               Nguyễn Thành Nam – KSV P9 VKSND tỉnh Thái Nguyên

Bài viết: Trao đổi quan điểm xử lý khi đương sự rút một phần yêu cầu khởi kiện.

10 Tháng Bảy, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Nội dung được điều chỉnh bởi điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 244 quy định:

1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.

2. Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.

Thực tiễn quá trình giải quyết các vụ án dân sự, hiện các cơ quan tố tụng vẫn còn có những cách hiểu khác nhau về việc giải quyết trường hợp đương sự rút một phần yêu cầu trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa. Quan điểm thống nhất là đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà đương sự đã rút, nhưng việc đình chỉ đó được tuyên tại phần Quyết định của bản án hay chỉ nêu tại phần Nhận thấy của bản án thì vẫn còn những quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Việc đình chỉ khi đương sự rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ cần nêu trong phần nhận định của bản án; theo đó, tại phần nhận định Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị rút một phần yêu cầu của đương sự là đủ. Phần Quyết định của bản án chỉ nêu việc giải quyết các yêu cầu còn lại của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Đối với trường hợp đương sự rút một phần yêu cầu tại phiên tòa thì HĐXX tuyên đình chỉ phần yêu cầu đó trong phần quyết định của bản án. Trường hợp đương sự rút một phần yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì không cần thiết phải tuyên đình chỉ phần yêu cầu đó trong phần quyết định của Bản án.

Quan điểm thứ ba cho rằng: Tất cả các nội dung yêu cầu khởi kiện dù đương sự đã rút một phần trước khi mở phiên tòa hay tại phiên tòa đều phải được tuyên tại phần Quyết định của Bản án.

Tôi đồng tình với quan điểm thứ ba. Vì tại điểm c khỏa 2 Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó”

Như vậy có thể thấy, phần Quyết định của bản án phải bao gồm “từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án”. Việc đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu đã rút cũng là một vấn đề phải giải quyết trong vụ án. Hậu quả của việc giải quyết yêu cầu mà đương sự chưa rút đó là chấp nhận hoặc không chấp nhận và nghĩa vụ chịu án phí theo quy định pháp luật; Còn hậu quả của việc giải quyết yêu cầu mà đương sự đã rút đó là chấp nhận và đình chỉ hoặc không chấp nhận. Do đó, đối với việc đương sự rút một phần yêu cầu cần phải được giải quyết tại phần Quyết định của bản án, không phụ thuộc vào việc đương sự rút phần yêu cầu đó trước hay tại phiên tòa. Trường hợp không tuyên đình chỉ đối với yêu cầu đã rút và được chấp nhận của đương sự tại phần Quyết định sẽ làm cho một phần nội dung khởi kiện bị bỏ trống và không được giải quyết rõ ràng, không đảm bảo việc giải quyết triệt để vụ án, ảnh hưởng quyền dân sự của đương sự.

Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm”… đã quy định cụ thể tại Điều 32: “Trường hợp đương sự rút một phần yêu cầu trước và tại phiên tòa, thì Tòa án ghi vào phần nhận định và quyết định trong bản án, quyết định về việc rút yêu cầu đó của đương sự”.

Như vậy, việc tuyên đình chỉ tại phần Quyết định của bản án đối với phần yêu cầu đã rút và được chấp nhận của đương sự là phù hợp với Quy định của điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại Điều 32 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao là cách hiểu đầy đủ cần được thống nhất trong việc giải quyết các vụ án dân sự.

Người viết: Đỗ Thủy – P9

CỤM THI ĐUA SỐ 6 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN KÝ GIAO ƯỚC THI ĐUA NĂM 2018

24 Tháng Năm, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ghi sâu lời Bác dạy: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”.

Từ đó đã trở thành phong trào phấn đấu, thi đua, tạo khí thế sôi nổi trong đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên toàn Ngành, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Nhằm tạo động lực để các đơn vị, cá nhân nỗ lực phấn đấu, góp phần thúc đẩy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao năm 2018; thông qua phong trào thi đua phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực công tác, tạo sự lan tỏa trong phong trào thi đua của Ngành; kịp thời đề nghị biểu dương, tôn vinh, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong phong trào thi đua; tăng cường sự đoàn kết, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa các tập thể, cá nhân trong Cụm thi đua; khuyến khích, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của cán bộ, công chức thuộc các đơn vị trong Cụm.

cum 61

Đồng chí Hoàng Văn Tiến – Phó Viện trưởng VKSND tỉnh phát biểu chỉ đạo Hội nghị

Ngày 21/5/2018, tại trụ sở VKSND tỉnh, Cụm thi đua số 6 gồm Phòng 9, Phòng 10 và Phòng 11 tổ chức Hội nghị ký giao ước thi đua giữa các đơn vị trong năm 2018 do đồng chí Ngô Văn Tân – Trưởng phòng 9 làm Cụm trưởng.

Tham dự Hội nghị có đồng chí Hoàng Văn Tiến – Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên, đại diện Văn phòng tổng hợp và toàn thể cán bộ, công chức của Phòng 9, Phòng 10, Phòng 11.

Hội nghị đã thông qua Thông báo số 86/TB-VKS ngày 28/02/2018 của VKSND tỉnh Thái Nguyên về việc thí điểm thực hiện tổ chức mô hình thi đua theo cụm các đơn vị trực thuộc VKSND tỉnh Thái Nguyên, Quy chế tổ chức và hoạt động của các cụm thi đua ngành Kiểm sát tỉnh Thái Nguyên ban hành kèm theo Quyết định số 108/QĐ-VKS ngày 04/4/2018 của Viện trưởng VKSND tỉnh và dự thảo bản cam kết giao ước thi đua năm 2018 của Cụm thi đua số 6.

Với mục tiêu đẩy mạnh các phong trào thi đua, tạo khí thế sôi nổi, nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Cụm thi đua số 6 đã đề ra kế hoạch triển khai các nhiệm vụ. Trong đó, có một số nhiệm vụ quan trọng như: Thực hiện tốt công tác chuyên môn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; triển khai kịp thời, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, nâng cao chất lượng công tác khen thưởng; tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị; tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong từng đơn vị…

Hội nghị đã tiến hành thảo luận đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác thi đua, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc để kiến nghị đến Hội đồng thi đua khen thưởng VKSND tỉnh.

Năm 2018 – năm đầu tiên đánh dấu mô hình tổ chức thi đua theo cụm, trên cơ sở kế hoạch và nội dung các phong trào thi đua, với tinh thần đoàn kết, dân chủ và ý chí quyết tâm, Cụm thi đua số 6 thống nhất sẽ cụ thể hóa chương trình công tác, có tiến độ và biện pháp thực hiện hiệu quả, tổ chức đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, kế hoạch đã đề ra, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Với tinh thần đó, các đơn vị Cụm thi đua số 6 đã thống nhất ký kết giao ước thi đua năm 2018.

cum 62

Cụm thi đua số 6 ký kết giao ước thi đua

Đinh Lý – Phòng 9

Một số giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị, kiến nghị trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình

21 Tháng Năm, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014 đã quy định quyền kháng nghị, kiến nghị của VKSND. Trong hoạt động tố tụng dân sự, quyền năng pháp lý này đã được cụ thể hoá tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong những năm qua, tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có chiều hướng tăng, nhất là các tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng, thừa kế tài sản… Vì vậy, số lượng án do Tòa án thụ lý ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung tranh chấp.

Các vụ án do Tòa án thụ lý, giải quyết cơ bản đều đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bản án, quyết định khi ban hành không đúng quy định của pháp luật, vi phạm nghiệm trọng quy định của BLTTS, BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, ảnh hưởng tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLTTDS, VKSND tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng, tăng cường công tác kháng nghị, kiến nghị khắc phục và phòng ngừa đối với các vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp của Tòa án nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung.

Từ thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự trên địa bàn tỉnh thời gian qua, nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm có một số dạng vi phạm dẫn đến án bị hủy, sửa như: xác định không đúng qun hệ pháp luật tranh chấp; không đưa đầy đủ người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; xác định sai tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; vi phạm về đại diện ủy quyền; thu thập chứng cứ không đầy đủ; áp dụng pháp luật nội dung không đúng quy định; tuyên vượt quá yêu cầu của đương sự; tính lãi suất, án phí không chính xác…

Số lượng kháng nghị, kiến nghị ở các đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện có tăng lên, song vẫn còn ít so với tổng số án bị hủy, sửa, đặc biệt là trong các vụ án có kháng cáo; chất lượng kháng nghị, kiến nghị chưa cao. Công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đôi lúc chưa chặt chẽ, vẫn còn một số bản án, quyết định sai sót dẫn tới không thể thi hành án được mà Kiểm sát viên cấp sơ thẩm không phát hiện vi phạm để có biện pháp tác động kịp thời với Tòa án… Đặc biệt, các dạng vi phạm điển hình, phổ biến xảy ra ở Tòa án cấp sơ thẩm đã được Viện kiểm sát tỉnh kiến nghị, kháng nghị, tuy nhiên quá trình kiểm sát bản án, quyết định Kiểm sát viên cấp sơ thẩm chưa nhận thức đầy đủ dẫn tới không phát hiện được vi phạm để ban hành kiến nghị, kháng nghị kịp thời.

Để nâng cao chất lượng kháng nghị, kiến nghị trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hôn nhân và gia đình, VKSND tỉnh Thái Nguyên đề ra một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao “Về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính”, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự.

Tăng cường kháng nghị phúc thẩm, gắn trách nhiệm của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, cấp huyện trong việc kháng nghị phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bản án, quyết định bị sửa, hủy có trách nhiệm của Viện kiểm sát nhưng không được phát hiện để thực hiện quyền kháng nghị.

Viện kiểm sát hai cấp trong phạm vi thẩm quyền, chú trọng công tác kháng nghị phúc thẩm, cần phối hợp chặt chẽ hoạt động của Kiểm sát viên trước, trong và sau phiên tòa sơ thẩm với việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án để phát hiện vi phạm, bảo đảm kháng nghị phúc thẩm đạt tỷ lệ cao về số lượng và chất lượng.

Trường hợp không còn thời hạn để xem xét, kháng nghị phúc thẩm ngang cấp thì phải kịp thời báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để tiếp tục xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Trường hợp bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng xét thấy có sai sót, vi phạm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới thì báo cáo Viện kiểm sát có thẩm quyền để xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thứ hai: Viện kiểm sát hai cấp tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kiến nghị. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Viện kiểm sát hai cấp có trách nhiệm nghiên cứu, phát hiện, tổng hợp những vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của Tòa án chưa đến mức kháng nghị mang tính cá biệt hoặc phổ biến để thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó cần chú trọng phát hiện những vi phạm trong công tác quản lý là điều kiện làm phát sinh các tranh chấp phức tạp để kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan, tổ chức hữu quan có liên quan để yêu cầu thực hiện các biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật.

Thứ ba: Tăng cường công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới trong việc gửi bản án, quyết định, chuyển hồ sơ vụ án; thông tin kịp thời các vi phạm để trao đổi nghiệp vụ, chủ động thực hiện kháng nghị ngang cấp và kịp thời báo cáo Viện kiểm sát cấp trên thực hiện quyền kháng nghị để đảm bảo tất cả các vi phạm phải được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng quy định.

Thứ tư: Đối với những vụ án bị cấp phúc thẩm hủy, sửa, cần xem xét trách nhiệm của Viện kiểm sát để tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành thông báo rút kinh nghiệm chung.

Thứ năm: Đối với đơn vị có lượng án bị hủy, sửa nhiều cần phân công Kiểm sát viên có kinh nghiệm, có năng lực và bản lĩnh nghiệp vụ tốt theo dõi, hướng dẫn. Cần mở sổ theo dõi, tổng hợp vi phạm của Tòa án và các cơ quan hữu quan để kiến nghị phòng ngừa vi phạm; tăng cường kháng nghị phúc thẩm.

Thứ sáu: Mỗi cán bộ, Kiểm sát viên cần có ý thức tự nghiên cứu, trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu các quy định của pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, đặc biệt là BLDS và BLTTDS năm 2015, nghiên cứu các Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát cấp trên, các Quyết định giám đốc thẩm, các tài liệu tập huấn để tích lũy kinh nghiệm.

Đinh Lý – Phòng 9

PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

14 Tháng Năm, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 10/5/2018, Phòng 9 – VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm vụ án“Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa: Nguyên đơn ông Mai Ngọc Hoàn và bà Nguyễn Thị Loan, trú tại tổ Đại Thịnh, phường Bãi Bông, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên – Bị đơn Nhà máy Z131 Tổng cục công nghiệp quốc phòng – Địa chỉ: phường Bãi Bông, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên .

Kiểm sát viên Nguyễn Thành Nam kiểm sát xét xử.

Tham dự phiên tòa có Lãnh đạo và các Kiểm sát viên của đơn vị.

Nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Hoàn và bà Loan trình bày: Ông bà là cán bộ Nhà máy Z131. Năm 1980 ông bà mua của ông Nguyễn Văn Sính và bà Dỗ Thị Thế trú tại Đại Cát, Đồng Tiến, Phổ Yên 01 thửa đất giáp với Nhà máy Z131. Sau đó ông bà canh tác và làm nhà trên đất. Năm 1993 thì được cấp GCNQSD đối với thửa đất trên. Năm 2015 Nhà máy Z131 chuyển khu chợ Xuân ở cổng nhà máy xuống khu vực thửa đất trên (Nhà máy Z131 cũng được cấp GCNQSD đất trùng với thửa đất này). Nay ông bà khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 111, tờ bản đồ 16, diện tích 282m2 tại tổ Đại Xuân, phường Bãi Bông, thị xã Phổ Yên. Bị đơn Nhà máy Z131 trình bày: Nhà máy tiếp quản diện tích đất của Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 từ năm 1969. Diện tích đất tiếp quản có cả thửa đất số 111, tờ bản đồ 16, diện tích 848m2.  Năm 1992 Nhà máy có đơn xin cấp GCNQSD đất đối với diện tích 27.800m2, trong đó có cả thửa 111, tờ bản đồ 16, diện tích 848m2.

Bản án số: 05/2017/DSST ngày 25/9/2017 của TAND thị xã Phổ Yên tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàn, bà Loan; buộc ông bà có trách nhiệm trả lại cho Nhà máy Z131 diện tích 282m2 theo GCNQSD đất, chặt bỏ cây trên đất để trả lại mặt bằng thửa đất cho Nhà máy. Hủy một phần GCNQSD đất số B881112 do UBND huyện Phổ Yên cấp năm 1993 cho ông Hoàn…

Sau khi Tòa tuyên xử, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Vụ án được TAND tỉnh Thái Nguyên thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Đến ngày 10/5/2018 vụ án được đưa ra xét xử.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã làm tốt công tác chuẩn bị. Tại phiên tòa thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử vụ án dân sự.

Kết thúc phiên toà, Phòng 9 đã tổ chức họp rút kinh nghiệm đối với Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên những kỹ năng và nhận thức khi giải quyết các vụ việc theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây cũng là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao kỹ năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đinh Lý – Phòng 9

PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

26 Tháng Tư, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 23/4/2018 Phòng 9 – VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm vụ án“Tranh chấp thừa kế” giữa: Nguyên đơn ông Đào Ngọc Dần, Đào Ngọc Tỵ và Bị đơn ông Đào Ngọc Hợi – Cùng trú tại xóm 7, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Vụ án do Kiểm sát viên Dương Thị Hương Liên trực tiếp kiểm sát xét xử.

Tham dự phiên tòa có Lãnh đạo và các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Nội dung vụ án: Cụ Đào Ngọc Dẫn và Trần Thị Miện sinh được 04 người con là Đào Ngọc Dần, Đào Ngọc Tỵ, Đào Thị Dậu, Đào Ngọc Hợi. Cụ Dẫn, cụ Miện chết không để lại di chúc. Năm 2011 ông Dần, ông Tỵ khởi kiện chia di sản thừa kế hiện do ông Hợi, bà Tính quản lý, sử dụng. Di sản thừa kế của cụ Dẫn, cụ Miện gồm 400m2 đất thổ cư, 200m2 đất vườn tạp, 144m2 đất ao, 480m2 đất ruộng, đều đã được cấp GCNQSD đất mang tên ông Hợi nhưng có nguồn gốc là tài sản của vợ chồng cụ Dẫn (UBND huyện Đại Từ không còn lưu trữ hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Hợi). Đối với 720m2 đất đồi rừng phía ông Hợi xác định năm 1976 cụ Dẫn, cụ Miện mua của ông Chính nhưng sau đó bỏ hoang, năm 1983 ông Hợi mới khai phá để trồng cây. Nhưng các bên đều xác định cụ Dẫn, cụ Miện không chuyển nhượng cho ai nên phần tài sản này là di sản thừa kế.

Tại Bản án số: 07/2017/DSST ngày 06/11/2017 của TAND huyện Đại Từ tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Giao cho ông Tỵ được quyền sử dụng 86m2 đất thổ cư và 24m tường rào, ông Tỵ được quyền sở hữu số tiền 42.900.000đ do ông Hợi thanh toán; ông Dần được quyền sử dụng 86m2 đất thổ cư có 01 nhà bếp và 01 nhà tạm, 4,9m tường rào, ông Dần phải thanh toán cho ông Hợi số tiền 4.953.000đ; ông Hợi phải thanh toán kỷ phần thừa kế cho bà Dậu phần tiền là 200.000.000đ, ông Hợi được quyền sử dụng 2948m2 đất đã được UBND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất…

Sau khi Tòa tuyên xử, các nguyên đơn và bị đơn đều kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 05/12/2017 VKSND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ/KNPT-DS đối với Bản án số 07/2017/DSST ngày 06/11/2017 của TAND huyện Đại Từ do vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án .

Ngày 06/3/2018 vụ án được TAND tỉnh Thái Nguyên thụ lý theo thủ tục phúc thẩm. Đến ngày 23/4/2018 vụ án được đưa ra xét xử.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã làm tốt công tác chuẩn bị. Tại phiên tòa thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử vụ án dân sự.

Kết thúc phiên toà, Phòng 9 đã tổ chức họp rút kinh nghiệm, bên cạnh việc ghi nhận những ưu điểm, đơn vị cũng đã chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên những kỹ năng và nhận thức khi giải quyết các vụ việc theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây cũng là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao kỹ năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đinh Lý – Phòng 9

CHI ĐOÀN VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN RA QUÂN “NGÀY CHỦ NHẬT XANH”

28 Tháng Ba, 2018 Đảng đoàn thể, Đoàn thanh niên

Thực hiện Kế hoạch số 05/KH-ĐK ngày 28/02/2018 của BCH Đoàn khối các cơ quan tỉnh; Kế hoạch số 02 ngày 15/3/2018 của BCH Chi đoàn VKSND tỉnh về việc tổ chức các hoạt động Thánh Thanh niên năm 2018; chào mừng kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2018) và nhằm đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ môi trường, chiều ngày 23/3/2018, Chi đoàn VKSND tỉnh Thái Nguyên tổ chức ra quân “Ngày chủ nhật xanh”.

Tại hoạt động, các đoàn viên trong Chi đoàn đã tiến hành dọn dẹp vệ sinh trụ sở VKSND tỉnh, nhặt rác và chăm sóc vườn hoa cây cảnh. Đây là hoạt động thiết thực nhằm hưởng ứng Tháng Thanh niên năm 2018; đồng thời là dịp để tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền đến Đoàn viên thanh niên ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan xanh, sạch, đẹp cho cơ quan.

          Một số hình ảnh hoạt động “Ngày chủ nhật xanh”

aaa11111

Page 3 of 41234