Tag Archives: phòng 9

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN PHỐI HỢP TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM

11 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 31/10/2019 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Tranh chấp quyền sử dụng đấtgiữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Triệu Sinh Đường, sinh năm 1973, Địa chỉ: Xóm Ba Nhất, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên;

Bị đơn: Ông Triệu Sinh Phúc, Địa chỉ: Xóm Ba Nhất, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Kiểm sát viên được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa: Lê Ngọc Kim Loan – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Kiểm sát viên Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án:

– Về nguồn gốc đất tranh chấp: Diện tích đất tranh chấp là 1.389m2 thuộc lô 41 tiểu khu 349 khoảnh 01 (nay là thửa đất số 533 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã Phú Thượng) có tổng diện tích 44.156m2 được gia đình ông Triệu Sinh Đường khoanh nuôi, bảo vệ từ năm 1993 và  được UBND huyện Võ Nhai giao đất rừng tại Quyết định số 1385. Gia đình ông Đường quản lý, sử dụng liên tục từ năm 1993, không có tranh chấp. Đến ngày 17/2/1998, ông Đường được UBND huyện Võ Nhai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L916951 đối với diện tích đất trên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo các quy định của pháp luật. Do vậy, việc ông Đường yêu cầu được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.389m2 là có căn cứ. Việc gia đình ông Phúc trình bày diện tích 1.389m2 đất tranh chấp là do bố mẹ ông Phúc cho vợ chồng ông từ năm 1985 nhưng không cung cấp được giấy tờ chứng minh diện tích đất này thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành các hoạt động tố tụng thu thập tài liệu, chứng cứ, xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng diện tích đất tranh chấp giữa 2 hộ, thu thập đầy đủ sơ đồ đo vẽ kèm theo phiếu đo đạc năm 1993, và tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã Phú Thượng để làm rõ nội dung lô số 41 tiểu khu 349 khoảnh 1 sang tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã Phú Thượng là thửa đất số 533, diện tích thửa đất này giữa hai tờ bản đồ có sự chênh lệch nhau do việc đo vẽ giữa các thời kỳ và sử dụng công nghệ đo vẽ khác nhau.

Do vậy, việc ông Đường yêu cầu được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.389m2 là có căn cứ, cần được chấp nhận

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết vụ án chưa đầy đủ, còn có các vi phạm như sau:

Thứ nhất, trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Đặng Thị Mùi (là vợ của bị đơn ông Triệu Sinh Phúc) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mà bà Mùi tham gia vụ án với tư cách là người đại diện cho bị đơn. Việc không đưa bà Mùi vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã vi phạm quy định tại Điều 68 BLTTDS.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vì cấp sơ thẩm không đưa bà Mùi tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Nội dung vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do vậy, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Thứ hai, trong vụ án này ông Đường còn khởi kiện yêu cầu ông Phúc phải bồi thườngcho ông 12 site gỗ mà ông Phúc chặt của ông trên diện tích đất đang tranh chấp. Tuy nhiên ông Đường không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày  22/5/2019, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Nụ có ý kiến không yêu cầu ông Phúc phải bồi thường về số gỗ này. Tuy nhiên trong bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 22/5/2019 của TAND huyện Võ Nhai, chưa nhận định, đánh giá về nội dung này là chưa đầy đủ.

Thứ ba, tại phần quyết định của bản án, buộc ông Triệu Sinh Phúc phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là 703.650đ (bao gồm giá trị diện tích đất tranh chấp 1.389m2 là 9.723.000đ và 300 cây keo là tài sản của ông Phúc trồng trên diện tích đất tranh chấp có giá trị là 4.350.000đ) là không đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bản án sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 22/5/2019TAND huyện Võ Nhai quyết định: Căn cứ  Điều 26, 35, 147, 157, 165, 235/BLTTDS; Điều 175/BLDS; Các Điều 4, khoản 2 Điều 5, Điều 97, 99, 100, 101, khoản 2 Điều 105, Điều 166, 202, 203  luật đất đai 2013; Điều 48 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Sinh Đường yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Triệu Sinh Phúc. Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích đất 1.389m2 có giá trị 9.723.000 của ông Triệu Sinh Đường nằm trong tổng diện tích 40.000m2 đất gia đình ông Đường được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L916951 mang tên ông Triệu Sinh Đường. Buộc ông Triệu Sinh Phúc phải trả cho ông Đường diện tích đất 1.389m2 nêu trên.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Hủy bản án số 01/2019/DS-ST ngày 22/5/2019 của TAND huyện Võ Nhai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

NGƯỜI VIẾT TIN BÀI : Trịnh Phương Thảo

                                              

 

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN PHỐI HỢP TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

23 Tháng Bảy, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 17/7/2019 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Tranh chấp quyền sử dụng đấtgiữa các đương sự: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Liên, ông Lê Đức Hạnh, Địa chỉ:  Tổ 14, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh TN; Bị đơn Ông Nguyễn Xuân Hoát, Địa chỉ: Tổ 14, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh TN.

Kiểm sát viên được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa: Nguyễn Tuyết Vân – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Kiểm sát viên Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án: Ông Lê Đức Hạnh ủy quyền cho bà Liên đại diện cho chồng toàn quyền khởi kiện và tham gia tố tụng trong vụ án. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà Nguyễn Thị Liên trình bày: Ngày 03/5/1999 vợ chồng bà có mua đất và nhà của ông Trần Như Lập tại phường Phú Xá, TPTN. Tổng diện tích đất là: 990m2 đất thổ cư, 212 m2 đất ao, đất ông Lập đã đã được cấp sổ bìa đỏ số B 933636. Trên đất có 2 gian nhà xây cấp 4, nhà bếp, bể chứa nước, nhà tắm, vườn cây ăn quả.

Sau khi nhận chuyển nhượng nhà đất của gia đình ông Lập, gia đình bà đã chuyển đến ở và sử dụng liên tục từ năm 1999 đến nay. Quá trình sử dụng đất do chưa sang tên đổi chủ, nên năm 2008 gia đình bà nhờ gia đình ông lập đổi giấy CNQSDĐ năm 1994, trong đó gia đình bà có hai thửa đất là: Thửa số 532 có diện tích 816 m2 (gồm: 300 m2 đất ở đô thị và 516 m2 đất trồng cây lâu năm), thửa số 531 có diện tích 256 m2 (trong đó gia đình bà có 130 m2, còn 126 m2 là của gia đình ông Hoát được ông Lập cho từ trước).

Năm 2014 gia đình bà làm thủ tục sang tên đổi chủ và được UBND thành phố Thái Nguyên cấp GCNQSDĐ số BU 937441 ngày 30/5/2014 với tổng diện tích là 946 m2, trong đó có 300 m2 đất ở đô thị, 516 m2 đất trồng cây lâu năm và 130 m2. Tuy nhiên hiện nay gia đình ông Hoát bà Thông đã lấn chiếm 150 m2 đất vườn và 49,4 m2 đất ao. Bà Liên khởi kiện yêu cầu gia đình ông Hoát phải trả lại bà 199,4 m2 đất theo đúng ranh giới, vị trí phần diện tích đất theo bản đồ địa chính.

Tại bản án sơ thẩm số 42/2018/DSST ngày 14/11/2018  Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định: Áp dụng Điều 26, 35, 147, 157, 165, 235, 271, 273/BLTTDS; Điều 175/BLDS; Các Điều 166, 203 luật đất đai 2013; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên, ông Lê Đức Hạnh về việc đòi 131m2 đất thuộc thửa 532 và 24,9m2 tại thửa 531 tờ bản đồ địa chính số 4 đối với gia đình ông Nguyễn Xuân Hoát.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Áp dụng Khoản 3 Điều 308, 310 BLTTDS; NQ số 326 ngày 30/12/2016, hủy bản án sơ thẩm số 42/2018/DSST ngày 14/11/2018 của TAND thành phố Thái Nguyên, chuyển Hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Người kháng cáo không phải chịu án phí DSPT.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

NGƯỜI VIẾT TIN BÀI – Trịnh Phương Thảo

 

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN: TĂNG CƯỜNG XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

24 Tháng Sáu, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 31/5/2019 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Tranh chấp hợp đồng thuê tài sảngiữa các đương sự: Nguyên đơn Bà Hoàng Thị Mùi- 1959, Ông Hoàng Văn Lưu- 1957, Địa chỉ:  Hồ Sen, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên – Bị đơn Anh Nguyễn Văn Tuyến- 1971, Chị Hoàng Thị Yến- 1974, Địa chỉ:  Bãi Á 1, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Kiểm sát viên được phân công Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa: Lê Thị Hương Giang – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Toàn thể Kiểm sát viên, cán bộ Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án: Vợ chồng bà Hoàng Thị Mùi và ông chồng Hoàng Văn Lưu đã được cấp GCNQSDĐ số BP 795698 thửa đất số 138 tờ bản đồ 24, bản đồ địa chính thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên diện tích sử dụng 85,2 m2, mục đích sử dụng trồng lúa, địạ chỉ xã Bãi Á,TT Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên, trên đất có nhà gỗ lợp ngói. Ông bà đã lập hợp đồng với anh Nguyễn Văn Tuyến và chị Hoàng Thị Yến (là cháu họ của bà) thuê nhà. Khi thuê hai bên có lập hợp đồng thuê nhà từ 01/5/2014 – 30/10/2014 giá cho thuê 1.000.000đ/tháng; lần 2 lập ngày 01/11/2014 thời hạn thuê từ 01/11/2014- 30/4/2015 giá thuê 1.000.000đ/ tháng; lần 3 lập ngày 28/4/2015 thời hạn thuê từ ngày 01/5/2015 đến ngày 30/4/2016, giá 1.500.000đ/ tháng; lần thứ 4 lập ngày 04/5/2016 thời hạn thuê từ ngày 01/5/2016 đến ngày 30/4/2017 giá 1.500.000đ. Quá trình thuê nhà khoảng tháng 4 , 5/2016 anh Tuyến và chị Yến tháo dỡ ngôi nhà cũ đi và làm nhà cấp 4 mái lợp tôn, ông bà có ý kiến nhưng anh Tuyến chị Yến bảo nhà cũ nên tháo đi để làm nhà mới ở nên vợ chồng ông bà không có ý kiến gì nữa.  Hết hạn thuê nhà gia đình bà có nhu cầu sử dụng không cho thuê nữa, yêu cầu vợ chồng anh Tuyến trả nhà đất, vợ chồng anh Tuyến không trả. Nên đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu vợ chồng anh Tuyến trả lại nhà, đất cho bà (Anh Tuyến tháo dỡ phần mái tôn, cột sắt đã làm trên đất của ông bà).

Đã xem xét  thẩm định tại chỗ, định giá tài sản xã định quán bán hàng diện tích 79 m2 có giá trị 42.266.830đ ( do vợ chồng Tuyến xây dựng)

Tại bản án số 07 ngày 27/11/2018 đã  áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 147, 227, 229,271, 273 BLTTDS; Điều 492, 493,494, 495, 499,703 BLDS 2005, điểm b khoản 1 điều 24, Điều 27 PL số 10

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Mùi và ông Hoàng Văn Lưu. Buộc anh Nguyễn Văn Tuyến và chị Hoàng Thị Yến hoàn trả diện tích đất tại thửa 138, tờ bản đồ 24, bản đồ thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 795689 ngày 23/5/2014 của UBND huyện Định Hóa và tài sản trên đất đã thuê, theo hợp đồng thuê đất và tài sản trên đất đã ký ngày 04/5/2016 cho ông Lưu và bà Mùi. Giao cho ông Lưu và bà Mùi quản lý sử dụng ngôi nhà có diện tích 79 m2, tường gạch xỉ bên dưới, bên trên bưng tôn sóng, nền láng vữa xi măng do anh Tuyến và chị Yến sửa chữa trên thửa đất số 138 tờ bản đồ 24, bản đồ thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Buộc ông Lưu và bà Mùi trả cho anh Tuyến và chị Yến số tiền tương ứng giá trị ngôi nhà tại thời điểm giải quyết vụ án là 42.266.830 đ.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Tuyến, sửa bản án sơ thẩm. Ghi nhận anh Tuyến, chị Yến tự tháo dỡ ngôi nhà có diện tích 79 m 2 tường gạch xỉ bên dưới, bên trên bưng tôn sóng, nền láng vữa xi măng do anh Tuyến và chị Yến sửa chữa trên thửa đất số 138 tờ bản đồ 24, bản đồ thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Không chấp nhận yêu cầu của anh Tuyến đòi tiền công tháo dỡ tài sản 15 triệu đồng.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

      Trịnh Phương Thảo

 

PHÒNG 9 VKSND TỈNH TỔ CHỨC PHIÊN TÒA XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM

29 Tháng Năm, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 24/4/2019, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa xét xử rút kinh nghiệm vụ án dân “Tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe” giữa:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Trung Thắng, sinh năm 1954

HKTT:  Xóm Khe Cua 2, thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: anh Trần Văn Tuân, sinh năm 1992

HKTT:  Xóm Khe Cua 2, thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị Lưỡng, sinh năm 1957

HKTT:  Xóm Khe Cua 2, thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Vụ án có kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Thái Nguyên

Tham dự phiên tòa có Lãnh đạo phòng, các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Phòng 9 VKSND tỉnh.

Kiểm sát viên được phân công đã thực hiện kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo theo pháp luật trong tố tụng dân sự đối với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Tại phiên tòa Kiểm sát viên tích cực tham gia xét hỏi những vấn đề chưa được làm rõ, chỉ ra vi phạm quy định pháp luật dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, từ đó phát biểu quan điểm bảo vệ thành công kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Kết thúc phiên tòa Phòng 9 VKSND tỉnh đã tổ chức họp rút kinh nghiệm dưới sự chủ trì của đồng chí Ngô Văn Tân, Trưởng phòng 9. Tại cuộc họp các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên tham dự phiên tòa phát biểu, nhận xét thẳng thắn, cởi mở về những ưu điểm, hạn chế của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa từ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đến khi kết thúc phiên tòa, qua đó rút kinh nghiệm đối với đ/c Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cũng như toàn thể các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Phòng 9, nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm, công tác chuyên môn của Phòng.

                                     Tuyết Vân – Phòng 9 VKSND tỉnh Thái Nguyên

PHỐI HỢP VỚI TAND TỈNH THÁI NGUYÊN XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

23 Tháng Mười, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, sáng ngày 08/10/2018, Phòng 9 – VKS tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – Tòa án tỉnh tổ chức phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Ông Mai Xuân Chung

Địa chỉ: TDP Son Trung, phường Bắc Sơn, TX Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Chị Trần Tú Lệ

Địa chỉ: Tổ 1C, phường Nông Trang, Việt Trì, Phú Thọ.

Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa: Đ/c Nguyễn Thành Nam – Kiểm sát viên trung cấp.

Tham dự phiên tòa rút kinh nghiệm có các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Mai Xuân Chung trình bày: Từ năm 2014 đến 2015 bà Trần Tú Lệ đã nhiều lần đến nhà ông vay tiền, cụ thể: Lần 1: Ngày 23/6/2014 vay ông Chung số tiền 80.000.000đ hẹn đến ngày 31/12/2014 trả; lần 2: Ngày 09/7/2014 vay 80.000.000đ hẹn đến ngày 31/12/2014 trả; lần 3: Ngày 10/11/2014 vay 96.000.000đ hẹn đến ngày 31/12/2014 trả; lần 4: Ngày 05/6/2015 vay 72.000.000đ hẹn đến ngày 15/6/2015 trả; lần 5: Ngày 07/10/2015 vay 80.000.000đ, hẹn đến ngày 31/12/2015 trả. Trong các lần vay hai bên đều lập hợp đồng vay, có thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 2%/tháng. Đến nay chị Lệ chưa trả tiền gốc, chỉ trả được 36.000.000đ tiền lãi. Ông Chung khởi kiện yêu cầu chị Lệ trả toàn bộ số tiền gốc và lãi là 496.828.329đ.

Bị đơn chị Lệ trình bày: Chị có vay của ông Chung số tiền cụ thể: Lần 1: Ngày 14/11/2014 vay ông Chung 40.000.000đ; lần 2: Ngày 23/6/2014 vay 80.000.000đ; lần 3: Ngày 09/7/2014 vay 80.000.000đ. Tổng số tiền gốc chị vay ông Chung là 200.000.000đ. Đối với các giấy vay tiền mà ông Chung đưa ra thực chất là cộng cả gốc và lãi 03 lần vay nêu trên (lãi mẹ đẻ lãi con). Chị Lệ cho rằng những khoản tiền vay này để đầu tư vào chợ Bắc Sơn. Chị và ông Chung đã thỏa thuận số tiền chị vay ông Chung được khấu trừ vào tiền ông Chung thuê kiốt bán hàng của Công ty SIAAI. Sau khi đối trừ đến thời điểm này thì ông Chung còn nợ công ty SIAAI số tiền 528.000.000đ.

Tại Bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của TAND thị xã Phổ Yên tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Xuân Chung đối với bà Trần Tú Lệ. Về tiền gốc: Buộc bà Lệ trả cho ông Chung số tiền 408.000.000đ; tiền lãi 124.824.329đ, bà Lệ đã trả được 36.000.000đ…

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên: Áp dụng Khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS: Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lệ, hủy toàn bộ bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của TAND thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thẩm quyền.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đây cũng là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đ.T.H.L –  Phòng 9

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN TĂNG CƯỜNG XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

5 Tháng Mười, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 19/9/2018 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất”giữa các đương sự: Nguyên đơn Ông Triệu Nguyên Vượng – Bị đơn Ông Triệu Nguyên Thao, Bà Triệu Thị Phẩy, cùng trú tại thôn Khuổi Chạo, xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên – Kiểm sát viên trung cấp Phòng 9.

Tham dự phiên tòa rút kinh nghiệm có các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án: Ông Triệu Nguyên Vượng khai phá được mảnh đất, năm 1996 gia đình ông được nhận giao đất, giao rừng. Năm 1997 được UBND huyện Võ Nhai cấp quyền sử dụng đất gồm các lô 3a, 3b, 3c, 6, 8 với tổng diện tích 30,52 ha. Năm 1998 gia đình ông được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Đến năm 2005 gia đình ông Triệu Nguyên Thao thuê máy ủi đến ủi một phần đất tại lô số 6, ông đã ngăn cản, năm 2011 ông Thao tiếp tục cho máy ủi vào san và làm nhà cho con trai là Triệu Kim Chắn ra ở riêng tại phần đất đang tranh chấp này. Nay ông Vượng đề nghị ông Thao phải trả lại cho ông phần đất đang tranh chấp để ông quản lý sử dụng theo giấy chứng nhận QSD đất mà gia đình ông được cấp. Bà Hoàng Thị Phẩy (vợ ông Thao) trình bày: Năm 1995 gia đình ông Vượng có hỏi gia đình bà và thỏa thuận nhất trí trả gia đình bà 01 con lợn 40kg hơi để được quản lý phần đất trên. Sau 03 năm gia đình ông Vượng không thực hiện theo thỏa thuận nên gia đình bà tiếp tục canh tác. Việc gia đình ông Vượng tự ý khoanh nuôi, bảo vệ gia đình bà không biết. Thời điểm từ năm 1993-1998 gia đình bà chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, nhưng vẫn hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước. Năm 1998 bà đã thấy có nền nhà cũ do ông bà của chồng bà ở đó, thời điểm đó nhà đã chuyển đến ở chỗ khác, gia đình bà canh tác 01 năm sau đó để cây mọc lại. Năm 2011 gia đình bà làm nhà cho con trai ra ở riêng trên phần đất có nền nhà cũ này thì xảy ra tranh chấp.

Tại Bản án sơ thẩm 03/2018/DSST ngày 11/4/2018 của TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Nguyên Vượng, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được quản lý sử dụng 2.207,3m2 đất đang tranh chấp; công nhận quyền sử dụng hợp pháp của ông Vượng đối  với 2.270,3m2 đất có giá trị 14.374.450đ nằm trong thửa số 6 tiểu khu 307, khoảnh 4 Bản đồ giao đất giao rừng xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai năm 1996-1998, tương ứng là thửa số 163 bản đồ địa chính số 2 đất lâm nghiệp xã Sảng Mộc, ông Vượng đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số L 906476 do UBND huyện Võ Nhai cấp ngày 12/2/1998. Buộc ông Triệu Nguyên Thao, bà Hoàng Thị Phẩy, anh Triệu Kim Chắn và chị Hoàng Thị Ba phải thu hoạch và dỡ bỏ 45 cây chuối, 06 bụi nứa chưa cho thu hoạch, 01 cây đu đủ đã cho thu hoạch, 05 cây mít đường kính gốc nhỏ hơn 05cm, 01 cây chanh đang cho thu hoạch, 01 cây xoài có đường kính gốc 05cm, 895,7m2 sắn chưa đến kỳ thu hoạch. Bản án còn tuyên về án phí…

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Áp dụng Khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS: Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Hoàng Thị Phẩy, hủy toàn bộ bản án số: 03/2018/DSST ngày 11/4/2018 của TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thẩm quyền.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đinh Thị Hương Lý, Dương Thị Hương Liên – Phòng 9

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN TĂNG CƯỜNG XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

5 Tháng Mười, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

 

Ngày 19/9/2018 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất”giữa các đương sự: Nguyên đơn Ông Triệu Nguyên Vượng – Bị đơn Ông Triệu Nguyên Thao, Bà Triệu Thị Phẩy, cùng trú tại thôn Khuổi Chạo, xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên – Kiểm sát viên trung cấp Phòng 9.

Tham dự phiên tòa rút kinh nghiệm có các Kiểm sát viên của Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án: Ông Triệu Nguyên Vượng khai phá được mảnh đất, năm 1996 gia đình ông được nhận giao đất, giao rừng. Năm 1997 được UBND huyện Võ Nhai cấp quyền sử dụng đất gồm các lô 3a, 3b, 3c, 6, 8 với tổng diện tích 30,52 ha. Năm 1998 gia đình ông được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Đến năm 2005 gia đình ông Triệu Nguyên Thao thuê máy ủi đến ủi một phần đất tại lô số 6, ông đã ngăn cản, năm 2011 ông Thao tiếp tục cho máy ủi vào san và làm nhà cho con trai là Triệu Kim Chắn ra ở riêng tại phần đất đang tranh chấp này. Nay ông Vượng đề nghị ông Thao phải trả lại cho ông phần đất đang tranh chấp để ông quản lý sử dụng theo giấy chứng nhận QSD đất mà gia đình ông được cấp. Bà Hoàng Thị Phẩy (vợ ông Thao) trình bày: Năm 1995 gia đình ông Vượng có hỏi gia đình bà và thỏa thuận nhất trí trả gia đình bà 01 con lợn 40kg hơi để được quản lý phần đất trên. Sau 03 năm gia đình ông Vượng không thực hiện theo thỏa thuận nên gia đình bà tiếp tục canh tác. Việc gia đình ông Vượng tự ý khoanh nuôi, bảo vệ gia đình bà không biết. Thời điểm từ năm 1993-1998 gia đình bà chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, nhưng vẫn hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước. Năm 1998 bà đã thấy có nền nhà cũ do ông bà của chồng bà ở đó, thời điểm đó nhà đã chuyển đến ở chỗ khác, gia đình bà canh tác 01 năm sau đó để cây mọc lại. Năm 2011 gia đình bà làm nhà cho con trai ra ở riêng trên phần đất có nền nhà cũ này thì xảy ra tranh chấp.

Tại Bản án sơ thẩm 03/2018/DSST ngày 11/4/2018 của TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Nguyên Vượng, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được quản lý sử dụng 2.207,3m2 đất đang tranh chấp; công nhận quyền sử dụng hợp pháp của ông Vượng đối 2.270,3m2 đất có giá trị 14.374.450đ nằm trong thửa số 6 tiểu khu 307, khoảnh 4 Bản đồ giao đất giao rừng xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai năm 1996-1998, tương ứng là thửa số 163 bản đồ địa chính số 2 đất lâm nghiệp xã Sảng Mộc, ông Vượng đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số L 906476 do UBND huyện Võ Nhai cấp ngày 12/2/1998. Buộc ông Triệu Nguyên Thao, bà Hoàng Thị Phẩy, anh Triệu Kim Chắn và chị Hoàng Thị Ba phải thu hoạch và dỡ bỏ 45 cây chuối, 06 bụi nứa chưa cho thu hoạch, 01 cây đu đủ đã cho thu hoạch, 05 cây mít đường kính gốc nhỏ hơn 05cm, 01 cây chanh đang cho thu hoạch, 01 cây xoài có đường kính gốc 05cm, 895,7m2 sắn chưa đến kỳ thu hoạch. Bản án còn tuyên về án phí…

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Áp dụng Khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS: Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Hoàng Thị Phẩy, hủy toàn bộ bản án số: 03/2018/DSST ngày 11/4/2018 của TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thẩm quyền.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

Đinh Thị Hương Lý – Dương Thị Hương Liên – Phòng 9

ĐÁNH GIÁ ÁN DÂN SỰ BỊ HỦY, SỬA NGHIÊM TRỌNG TRONG BA NĂM QUA (2015, 2016, 2017)

19 Tháng Chín, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 với những nội dung mới hoàn thiện các chế định về năng lực hành vi dân sự, giám hộ và đại diện để bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của người chưa thành niên; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự, qua đó giúp họ được bình đẳng với chủ thể khác trong quan hệ dân sự… Bộ luật Dân sự đã cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.

Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 quy định những vấn đề liên quan đến: Những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật. Bộ luật tố tụng dân sự góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

Sau một thời gian đi vào thực tiễn, việc áp dụng các quy định của hai đạo luật trên vẫn còn nhiều bất cập, thiếu tính thống nhất dẫn đến chất lượng giải quyết án dân sự ở cấp sơ thẩm chưa cao. Tỷ lệ án bị hủy, sửa còn nhiều, trong khi đó số lượng kháng nghị phúc thẩm ngang cấp chưa tương xứng so với tổng số án bị hủy, sửa, đặc biệt có nhiều vụ án bị hủy có lỗi của Kiểm sát viên.

Phạm vi bài viết này chúng tôi đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát án dân sự ở Viện kiểm sát hai cấp ngành Kiểm sát Thái Nguyên trong ba năm (2015 – 2017), trong đó đặc biệt chú trọng khâu kiểm sát sau phiên tòa đối với cấp sơ thẩm.

Từ năm 2015 đến năm 2017, VKS tỉnh Thái Nguyên thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 330 vụ, việc. Tòa án đã xét xử: 269 vụ (trong đó sửa bản án sơ thẩm 106 vụ; hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại 64 vụ; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án 10 vụ).

Tồn tại, hạn chế của bản án, quyết định bị Tòa án tuyên hủy, sửa nghiêm trọng là do:

Thứ nhất, số vụ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan có trách nhiệm của VKS tuy giảm nhưng vẫn còn nhiều. Chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm của VKS cấp huyện chưa cao, vẫn còn có kháng nghị phúc thẩm đến khi xét xử phúc thẩm phải rút hoặc sửa đổi, bổ sung và còn nhiều vụ án bị hủy, sửa VKS không có kháng nghị hoặc kiến nghị. Nhiều văn bản kiến nghị của VKS nội dung không sâu, chủ yếu là kiến nghị vi phạm về thời hạn, việc chậm gửi các văn bản tố tụng, nên chất lượng và hiệu quả còn có những hạn chế nhất định; nhiều dạng vi phạm về nội dung và tố tụng không được khắc phục kịp thời và triệt để.

Thứ hai, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân công, phân nhiệm ở một số đơn vị cấp huyện còn chậm đổi mới, chưa có sự đầu tư bài bản, chuyên sâu về nghiệp vụ và chưa thật sự quyết liệt, tâm huyết với nhiệm vụ. Còn tình trạng coi nhẹ, nể nang. Nhiều đơn vị chỉ phân công một Kiểm sát viên phụ trách công tác này với vai trò làm việc kiêm nhiệm. Kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác này không nhiều.

Thứ ba, một số đơn vị cấp huyện khi kiểm sát giải quyết các tranh chấp phức tạp như: tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản; tranh chấp về thừa kế; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và sau khi ly hôn; tranh chấp về hợp đồng… còn lúng túng về kỹ năng nghiệp vụ, trình tự thủ tục tố tụng hoặc chưa nắm vững các quy định của pháp luật nội dung, dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật, không phát hiện hoặc chậm phát hiện vi phạm nên không kịp thời thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị.

Từ thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự trên địa bàn tỉnh thời gian qua, chúng tôi nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm có một số dạng vi phạm điển hình dẫn đến án bị hủy, sửa như: xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; không đưa đầy đủ người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; xác định sai tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; vi phạm về đại diện ủy quyền; thu thập chứng cứ không đầy đủ; áp dụng pháp luật nội dung không đúng quy định; tuyên vượt quá yêu cầu của đương sự; tính lãi suất, án phí không chính xác…

Dẫn đến vi phạm trên là do xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, công tác kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự chưa thật sự được coi trọng và đầu tư các nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt, nhất là đối với các đơn vị cấp huyện. Một số Kiểm sát viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; năng lực, trình độ chưa đồng đều (nhiều Kiểm sát viên mới bổ nhiệm được phân công làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự). Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có lúc, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ và khối lượng công việc cũng như sự đa dạng, tính chất phức tạp của án dân sự trong tình hình hiện nay. Còn tồn tại tâm lý nể nang, coi nhẹ nên thiếu sự chủ động, chậm đổi mới trong việc tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ; chưa nêu cao tinh thần học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, ít nghiên cứu văn bản pháp luật, không nắm bắt kịp thời hướng dẫn của cấp trên cũng như sự thay đổi trong chính sách pháp luật.

Bên cạnh đó, nguyên nhân khách quan do Trong những năm qua, các chính sách, văn bản pháp luật về đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình, dân sự có nhiều thay đổi; một số văn bản pháp luật mâu thuẫn, chưa được các cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhận thức, áp dụng pháp luật. Các vụ án bị hủy, sửa đa số là những vụ án có tính chất phức tạp, được điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp luật qua nhiều thời kỳ như lĩnh vực đất đai, nhà ở. Bên cạnh đó, một số địa phương thường xuyên có biến động về đất đai, giá trị quyền sử dụng đất tăng đột biến; công tác quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một nơi còn nhiều sai sót trong đo đạc, cấp chồng chéo các thửa đất, cấp đất không đúng diện tích thực tế sử dụng… dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất ngày càng gay gắt, phức tạp. Việc hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp đất đai còn mang tính hình thức, chưa được chú trọng đúng mức, một số nơi tiến hành hòa giải không đúng thành phần, tiến hành hòa giải và lập biên bản hòa giải cả khi không có sự tham gia đầy đủ của các bên đương sự. Một số cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai không cung cấp được chứng cứ cho Tòa án, dẫn đến việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở cấp sơ thẩm gặp nhiều khó khăn.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới, thời gian tới, VKSND tỉnh tiếp tục quán triệt các quy định của pháp luật, chỉ thị, hướng dẫn của Ngành về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Tăng cường công tác phối kết hợp giữa các cấp Kiểm sát, giữa hai ngành Toà án và VKS cũng như với các cơ quan hữu quan trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo Viện và phòng nghiệp vụ trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, đặc biệt chú trọng đến công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ đối với VKSND các huyện, thành phố, thị xã. Bên cạnh đó, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án. Cán bộ, Kiểm sát viên không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn; tích lũy kinh nghiệm, tích cực nghiên cứu các điểm mới trong các đạo luật có liên quan đến công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, thống nhất nhận thức và hoạt động. Thực hiện nhiều biện pháp sáng tạo trong công việc như trong việc tra cứu văn bản, ứng dụng công nghệ thông tin… đảm bảo thuận lợi và hiệu quả công tác. Phát huy tinh thần tự giác, tích cực học tập nghiên cứu các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự.

 Đ.T.H.L – Phòng 9

VKS hai cấp tỉnh Thái Nguyên tăng cường kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định sơ thẩm nhằm hạn chế án bị hủy, sửa nghiêm trọng do lỗi của Kiểm sát viên

14 Tháng Chín, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Để khắc phục tình trạng án bị hủy, sửa nhiều, VKSND hai cấp cần có biện pháp tác động kịp thời với Tòa án cùng cấp, trong đó tăng cường kiểm sát bản án, quyết định sau phiên tòa.

Phòng 9 – VKSND tỉnh thái Nguyên vừa ban hành thông báo rút kinh nghiệm qua tổng hợp kết quả giải quyết vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình bị kháng cáo, kháng nghị, bị hủy, sửa theo thủ tục phúc thẩm trong quý III – 2018.

Theo đó, trong quý III – 2018, tổng số án bị hủy là 04 vụ (hủy xét xử lại 03 vụ), tập trung vào hai đơn vị Võ Nhai và Định Hóa.

Về án bị sửa có 10 vụ (sửa theo thỏa thuận của đương sự là 04 vụ).

Nguyên nhân hủy, sửa án sơ thẩm là do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án thu thập chứng cứ chưa toàn diện, không đưa đầy đủ người tham gia tố tụng dẫn đến áp dụng pháp luật thiếu chính xác. Bên cạnh đó, sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự có kháng cáo, khiếu nại tại cấp phúc thẩm, các đương sự cung cấp tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên phải hủy án.

Để kịp thời khắc phục những tồn tại trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự, Phòng 9 ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi đến các VKS cấp huyện cùng trao đổi đề ra các biện pháp tích cực nhằm thực hiện tốt công tác kiểm sát dân sự.

Theo đó, VKS cần thực hiện tốt công tác kiểm sát thụ lý, kiểm tra việc Tòa án đưa đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS hay không, quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm có hợp pháp hay không. Ngoài ra, kiểm tra việc đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm có khách quan không. Kết hợp chặt chẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa, phiên họp; kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án để kịp thời phát hiện vi phạm, thực hiện thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị theo thẩm quyền, nhằm hạn chế tối đa việc Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy án mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

 Đ.T.H.L – Phòng 9

PHÒNG 9 VKSND TỈNH TỔ CHỨC PHIÊN TÒA XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM

5 Tháng Chín, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện nhiệm vụ kế hoạch công tác năm 2018 của VKSND tỉnh Thái Nguyên. Tháng 8 năm 2018, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên lựa chọn 02 phiên tòa để xét xử rút kinh nghiệm chung. Từ ngày 23/8 đến ngày 28/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra phiên tòa thứ nhất xét xử phúc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Hà, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Tổ 33, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh TN

Bị đơn: Phan Thị Quy, sinh năm 1949.

Địa chỉ: Tổ 14, phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh TN

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã tích cực tham gia xét hỏi những vấn đề chưa được làm rõ, từ đó đưa ra quan điểm giải quyết vụ án đúng đắn giúp cho Hội đồng xét xử ra được bản án đúng pháp luật, thấu tình đạt lý. Kết thúc phiên tòa Phòng 9 VKSND tỉnh đã tổ chức họp rút kinh nghiệm dưới sự chủ trì của đồng chí Ngô Văn Tân-Trưởng phòng 9. Tại cuộc họp các Kiểm sát viên tham dự phiên tòa lần lượt phát biểu, nhận xét về những mặt được, những mặt còn hạn chế của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa từ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đến khi kết thúc phiên tòa. Đây được coi là một buổi sinh hoạt chuyên môn, giúp cho toàn thể Kiểm sát viên Phòng 9 cùng rút nghiệm chung, tự bổ túc những thiếu sót để cùng nhau nâng cao nghiệp vụ.

                                                        PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN

Page 2 of 41234