Tag Archives: phòng 9

CHÂN DUNG NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH-TRƯỞNG PHÒNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ HẾT LÒNG VÌ CÔNG VIỆC

30 Tháng Chín, 2020 GIẢI BÁO CHÍ TOÀN QUỐC BÚA LIỀM VÀNG

Theo tiếng gọi của Tổ quốc, Năm 1978. người thanh niên đất Quảng Ninh, đồng chí Ngô Văn Tân lên đường nhập ngũ bảo vệ tổ quốc. Quá trình rèn luyện, phấn đấu đồng chí đã lập được rất nhiều thành tích xuất sắc, ngày 24/11/1979 đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Xuất ngũ trở về địa phương đồng chí tiếp tục theo học Trường Đại học kinh tế quốc dân. Ngày 01/11/1992, sau khi tốt nghiệp đại học, như một cái duyên với nghề kiểm sát, đồng chí được tiếp nhận vào ngành kiểm sát và công tác tại VKSND tỉnh Bắc Thái (nay là VKSND tỉnh Thái Nguyên). Những năm đầu đồng chí được phân công công tác tại Văn phòng tổng hợp VKS tỉnh Bắc Thái, năm 2003 đồng chí được phân công công tác tại Phòng THQCT, KSĐT, KSXX sơ thẩm các vụ án hình sự về kinh tế, chức vụ, án hình sự về trật tự xã hội. Quá trình công tác trong ngành, đồng chí không ngừng học tập và phấn đấu, ngày 01/5/2003 đồng chí được bổ nhiệm và giữ chức vụ Phó trưởng phòng; Năm 2014 đồng chí được điều động và bổ nhiệm làm Trưởng phòng Kiểm sát giải quyết các vụ, việc Dân sự và Hôn nhân gia đình (Phòng 9).

31

Thực hiện cuộc vận động của Ngành Kiểm sát nhân dân xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” như ngọn lửa thắp sáng niềm tin tiếp sức cho cán bộ, công chức tiếp tục thực hiện mơ ước, hoài bão của mình là góp một phần công sức xây dựng ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên vững mạnh. Những đóng góp và tâm huyết của đồng chí được đồng nghiệp trân trọng và xem đồng chí như một người thầy đáng kính, là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo.

Gần 40 năm công tác và cống hiến cho ngành Kiểm sát, trải qua nhiều vị trí công tác, chức vụ khác nhau nhưng ở bất kỳ vị trí công tác nào đồng chí cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, được ban Lãnh đạo, cán bộ, kiểm sát viên trong đơn vị tín nhiệm. Với cương vị trưởng phòng, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tập thể phòng 9 và cán bộ, công chức trong Phòng có bước tiến bộ và phát triển nhanh chóng với nhiều thành tích mà Phòng đạt được: Năm 2016 Phòng vinh dự được Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen “Đã có thành tích trong công tác từ năm 2011 đến năm 2015”, hàng năm Phòng đều đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, đạt Đơn vị dẫn đầu trong phòng trao thi đua khối năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 và 2019. Bản thân cá nhân đồng chí đạt nhiều thành tích: Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, Chiến sỹ thi đua Ngành, được VKSND tối cao tặng bằng khen trong các đợt thi đua ngắn hạn, dài hạn. Hàng năm đồng chí luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm đáp ứng yêu cầu chính trị địa phương và của Ngành; xây dựng Chi bộ là Chi bộ trong sạch, vững mạnh nhiều năm liền, tổ công đoàn  vững mạnh và đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Với cương vị Trưởng phòng, Bí thư chi bộ của đơn vị, đồng chí Ngô Văn Tân luôn nhận thức việc học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vô cùng cần thiết, đồng chí luôn chú trọng, quán triệt, động viên đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên phải xác định việc học tập là quyền lợi và là nhiệm vụ chính trị của mỗi người cán bộ, công chức, đảng viên, kiến thức vững chắc bao giờ cũng là cơ sở của sự thành công. Để có kiến thức thì yêu cầu trước nhất đối với mọi cán bộ, đảng viên là phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện theo lời dạy của Bác đối với cán bộ Kiểm sát “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng và Khiêm tốn”, gắn với việc thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” đồng chí luôn tâm huyết cùng với tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành kiểm sát tận tuỵ, có chuyên môn vững vàng phục vụ nhân dân và đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Là một người lãnh đạo luôn tâm huyết và hết mình cho công tác xây dựng ngành, đồng chí luôn nhấn mạnh việc thực hiện công tác tuyên truyền trong ngành kiểm sát là công tác quan trọng giúp hình ảnh người cán bộ kiểm sát trong sự nghiệp đổi mới, góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.

Là một người có lối sống gần gũi, giản dị và được nhiều đồng nghiệp yêu mến, với cương vị lãnh đạo đồng chí được anh em trong đơn vị đều có chung một nhận xét anh là một người lãnh đạo rất nhạy bén, sắc sảo, lĩnh vực nào khi nghe anh em báo cáo nội dung khó khăn, vướng mắc trong công tác, đồng chí đều có ý kiến chỉ đạo rất sát, đúng và trúng, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho cấp dưới. Trong sinh hoạt thường ngày đồng chí rất hiểu và thường xuyên quan tâm đến đời sống, vật chất tinh thần của cán bộ, Kiểm sát viên, tạo điều kiện để cán bộ, Kiểm sát viên phát huy hết năng lực, sở trường, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Có thể nói, quá trình công tác của mình, đồng chí Ngô Văn Tân đã để lại không ít những bài học kinh nghiệm để những công chức trẻ học tập và noi theo. Tuy nhiên, muốn thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình, ngành Kiểm sát còn cần cả một đội ngũ cán bộ, công chức, Kiểm sát viên có năng lực và tâm huyết với Ngành như thế, vì sứ mệnh bảo vệ công lý của Ngành là nhiệm vụ thiêng liêng mà không phải trách nhiệm riêng của bất cứ cá nhân nào, đó là trách nhiệm vụ và yêu cầu mà mọi Kiểm sát viên cần phải thực hiện. Do đó, mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, đều phải phấn đấu trở thành người Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”, có như vậy ngành Kiểm sát mới hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất là trong bối cảnh phát triển của xã hội hiện nay. Mọi quá trình đều được bắt đầu bằng một ý tưởng, một tầm nhìn xa, sẽ xuất phát từ một ước muốn chân thành; mỗi cá nhân muốn thành công cần giữ cho mình một bầu nhiệt huyết, một ước muốn chân thành, một khát khao cháy bỏng; chỉ đến khi đam mê đủ lớn, khao khát dâng trào, mới dễ biến ước muốn thành hành động.

Trong cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” đồng chí Ngô Văn Tân như tạo thêm động lực, tiếp thêm niềm tin cho cán bộ, công chức ngành kiểm sát nói chung và cán bộ công chức làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự – HNGĐ nói riêng, giúp họ thêm yêu ngành, yêu nghề, yêu công việc mình được phân công và từ đó tiếp tục thực hiện hoài bão của mình là góp một phần công sức xây dựng ngành kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyễn ngày càng phát triển vững mạnh.

32

Tập thể cán bộ, Kiểm sát viên Phòng 9

Với sự phấn đấu không ngừng cùng với phẩm chất đạo đức của người cán bộ Kiểm sát viên đồng chí Ngô Văn Tân luôn hoàn thành xuất sắc chức trách nhiệm vụ được giao. Đồng chí là một trong những tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo mười chữ vàng mà Bác Hồ dành tặng cho cán bộ ngành Kiểm sát “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”./.

                                                                        Đỗ Thị Thu Thủy- Phòng 9

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN PHỐI HỢP TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM

14 Tháng Tám, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 06/8/2020 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9- VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Ly hôngiữa

Nguyên đơn: Chị Bàn Thanh Kiều, sinh năm 1995;

Bị đơn: Anh Triệu Sinh Quang – 1993.

Cùng trú tại: Xóm Na Rang, xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Kiểm sát viên được phân công Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa: Đỗ Thị Ánh Vân – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Lãnh đạo, Kiểm sát viên, cán bộ Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Chị Bàn Thanh Kiều và anh Triệu Sinh Quang tự nguyện kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung cùng gia đình nhà chồng, thời gian đầu vợ chồng sống tình cảm hạnh phúc, sau được một thời gian phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Quang chơi bời, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ, con hay đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà, hiện chị đã về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân từ tháng 12/2017. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài chị xin được ly hôn. Con chung có 01 con Triệu Đức Bảo, sinh ngày 23/10/2014 chị có nguyện vọng xin nuôi con không yêu cầu anh Quang cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản án số 02/2020/LH-ST ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, Thái Nguyên đã quyết định:

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 271,272,278,280 BLTTDS năm 2015, Điều 51,54, 55, 58, 81, 83, Luật HN và GĐ năm 2014; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin li hôn của chị Kiều. Chị Kiều được ly hôn với anh Quang.

Về con chung: Giao cháu Triệu Đức Bảo, sinh ngày 23/10/2014 cho chị Kiều trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Tạm hoãn đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh Quang do chị Kiều không yêu cầu. Anh Quang có quyền đi lại thăm con chung.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc nuôi con, chị Kiều nhất trí đề nghị Hội đồng xét xử giao con là cháu Triệu Đức Bảo, sinh ngày 23/10/2014 cho anh Quang chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Quang không yêu cầu chị Kiều đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã Quyết định: Áp dụng Khoản 2 Điều 308, 309 BLTTDS, công nhận sự thỏa thuận của anh Quang và chị Kiều về việc nuôi con, sửa bản án sơ thẩm số 02/2020/LH-ST ngày 14/5/2020 của TAND huyện Võ Nhai, Thái Nguyên.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

                                                                  NGƯỜI VIẾT TIN BÀI : Trần Hồng Hạnh

ĐẢNG BỘ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN Tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Chỉ thị của ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XII

10 Tháng Bảy, 2020 Đảng bộ, Đảng đoàn thể

Thực hiện Kế hoạch số 144-KH/ĐUK ngày 17/6/2020 của Ban thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Chỉ thị của ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XII.

Ngày 06 tháng 7 năm 2020, Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Chỉ thị của ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XII.

Thành phần tham dự hội:  Toàn thể cán bộ, Đảng viên trong Đảng bộ gồm: 73 đồng chí/76 đồng chí. Hội nghị diễn ra trong 1/2 ngày, do đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy trực tiếp truyền đạt các Chỉ thị sau:

– Chỉ thị số 41-CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường phối hợp và triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng.

– Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.

– Chỉ thị số 43-CT/TW, ngày 08/4/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới.

– Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 16/4/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành và nghiên cứu, học tập sách lý luận, chính trị.

– Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

– Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

– Thông báo kết luận của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Kết luận số 102-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về hội quần chúng trong tình hình mới.

Đảng bộ đã thảo luận và thông qua Chương trình hành động thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết.

                                                                               Đỗ Thị Ánh Vân

VKSND tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết cuộc thi “Xây dựng Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm dân sự, hôn nhân gia đình”

7 Tháng Bảy, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Được sự nhất trí của Lãnh đạo Viện Phòng 9 phối hợp cùng phòng 15 xây dựng kế hoạch, thể lệ cuộc thi“Xây dựng Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm dân sự, hôn nhân gia đình”.

Từ ngày 29/4/2020 đến ngày 11/5/2020, BTC phát đề cho các đồng chí (tổng số 29 đ/c) viết bài dự thi. Chất lượng các bài gửi về BTC đều đảm bảo về hình thức và nội dung, đáp ứng các tiêu chí do BTC đề ra.

Ngày 19/6/2020 tại Hội nghi sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2020, Phòng 9 đã phát biểu đánh giá chất lượng và rút kinh nghiệm chung về cuộc thi.

Sáng ngày 02/7/2020 tại hội nghị điển hình tiên tiến ngành KSND tỉnh Thái Nguyên lần thứ IV năm 2020, Ban tổ chức cuộc thi đã công bố Quyết định và trao giải cuộc thi gồm 01 giải nhất, 02 giải nhì, 02 giải ba và 03 giải khuyến khích, đông thời Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên quyết định tặng giấy khen cho các đồng chí đạt giải.

603

Đồng chí Phùng Đức Tiến- Viện trưởng VKS tỉnh trao giải và giấy khen của VKSND tỉnh Thái Nguyên cho các đồng chí đạt giải trong cuộc thi

Giải nhất thuộc về đồng chí Đinh Khánh Luyện- KSV, Phó Viện trưởng VKSND huyện Định Hóa; 02 giải nhì thuộc về đồng chí Nguyễn Thanh Phong- KSV, Phó Viện trưởng VKSND huyện Đại Từ, đồng chí Lê Phương Thùy- KSV VKSND thị xã Phổ Yên; 02 giải 3 thuộc về đồng chí Lã Thị Tiến- KSV VKSND huyện Đại Từ; đồng chí Ma Thị Thảo- KSV VKSND huyện Đồng Hỷ; 03 giải khuyến khích thuộc về các đồng chí Đinh Ngọc Vĩnh- KSV VKSND huyện Định Hóa; đồng chí Nguyễn Như Hảo và Chu Thanh Thủy – KSV VKSND huyện Đại Từ;

Kết thúc cuộc thi BTC mong muốn trong tương lai sẽ có thêm nhiều cuộc thi để cán bộ KSV trong ngành tự học hỏi và trau dồi kiến thức, phục vụ cho công tác chuyên môn nghiệp vụ,đảm bảo hoàn thành tốt các chỉ tiêu công tác đã đề ra.

Phòng 9

PHÒNG 9 TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

25 Tháng Ba, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 13/3/2020, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp với TAND cùng cấp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa: Nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Đăng, sinh năm 1973,địa chỉ: Tổ 31, phường Hương Sơn, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với bị đơn ông Vũ Ngọc Châu,sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1954, địa chỉ: Tổ 10, phường Mỏ Chè, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Hồng Được, sinh năm 1995, địa chỉ TDP Ưng, phường Thắng Lợi, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và anh Vũ Thanh Sơn, sinh năm 1981, địa chỉ Tổ 10, phường Mỏ Chè, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, phân tích, tổng hợp toàn bộ chứng cứ, tài liệu, lập hồ sơ kiểm sát, dự kiến các tình huống và xử lý các tình huống tại phiên tòa, lập đề cương hỏi đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, của đương sự và những người tham gia phiên tòa, đồng thời căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, kiểm sát viên đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi kết thúc phiên tòa, Phòng đã tổ chức họp rút kinh nghiệm đối với đồng chí Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đồng thời cũng rút kinh nghiệm chung cho công tác kiểm sát giải quyết án dân sự trong đơn vị. Từ đó đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình hiện nay.

                                                                                                                  PHÒNG 9

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM Đối với bản án dân sự có vi phạm, bị Tòa án cấp Phúc thẩm xử hủy để giải quyết lại

3 Tháng Ba, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét thấy:

Tại Bản án số: 25 ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết vụ án “Tranh chấp HĐCN QSD đất và tài sản gắn liền với đất” giữa:

Nguyên đơn:Đỗ Ánh Hồng, sinh năm 1964.

Trú tại: SN 53, Tổ 11, phường Trung Thành, TPTN, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Vũ Thị Thuấn, sinh năm 1961; ông Trần Văn Võ, sinh năm 1962;

Đều trú tại: Tổ 12, phường Tân Lập, TPTN, tỉnh Thái Nguyên.

Còn có những vi phạm thiếu sót cần rút kinh nghiệm như sau:

Nội dung vụ án:

Theo nguyên đơn bà Đỗ Ánh Hồng: Ngày 08/01/2013 bà Vũ Thị Thuấn và ông Trần Văn Võ có chuyển nhượng cho bà Đỗ Ánh Hồng QSD đất và tài sản là nhà trên đất, vị trí thửa đất số 299, tờ bản đồ 13, địa chỉ thửa đất tại tổ 12, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên. Việc chuyển nhượng đã được thực hiện qua phòng công chứng Trung Thành, thành phố Thái Nguyên. Do chưa thu xếp được chỗ ở nên bà Thuấn và ông Võ có mượn lại tài sản gồm nhà và đất nêu trên của bà để ở.

Đến ngày 20/4/2013 bà Hồng có nhu cầu sử dụng nên đã yêu cầu bà Thuấn, ông Võ phải trả lại tài sản trên cho bà, mặc dù bà đã yêu cầu rất nhiều nhưng bà Thuấn, ông Võ không trả lại tài sản. Đến ngày 02/8/2013 bà Hồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa 299 tờ bản đồ số 13. Bà Hồng gửi đơn nhờ chính quyền địa phương can thiệp, ngày 13/9/2013 UBND phường Tân Lập đã tiến hành hòa giải, bà Thuấn, ông Võ có đề nghị bà cho mượn tiếp sáu tháng nữa để thu xếp chỗ ở và trả nhà, đất cho bà. Gia đình bà Thuấn hẹn đến ngày 13/3/2014 sẽ giao trả toàn bộ nhà đất cho bà Hồng.

Ngày 13/3/2014 bà Hồng có lên tiếp quản tài sản theo đúng cam kết nhưng ông Võ, bà Thuấn không trả và còn gây khó khăn cho bà.

Nay bà Hồng yêu cầu ông Võ, bà Thuấn phải trả lại tài sản cho bà  gồm nhà và đất tại thửa 299, tờ bản đồ số 13 thuộc tổ 12, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên.

Theo bị đơn trình bày: Ngày 08/01/2013 vợ chồng bà cho chị Vũ Thị Thủy mượn giấy CNQSD đất để thế chấp vay tiền bà Hồng 300.000.000đ, vợ chồng bà có đến Văn phòng công chứng Trung Thành để làm thủ tục. Do bà Hồng cam kết miệng là ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản và tài sản trên đất chỉ để làm tin nên vợ chồng bà đồng ý ký hợp đồng. Giấy CNQSD đất và giấy vay tiền bà Hồng giữ, vợ chồng bà chỉ cầm bản phô tô giấy vay tiền và Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn (bà Thuấn, ông Võ) có đơn phản tố yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất nêu trên.

Bản án sơ thẩm số 25 ngày 24/6/2019 của Tòa án TPTN đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Ánh Hồng về việc kiện đòi tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất đối với bị đơn bà Vũ Thị Thuấn, ông Trần Văn Võ.
  2. Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 08/1/2013 giữa bà Đỗ Ánh Hồng và bà Vũ Thị Thuấn, ông Trần Văn Võ tại thửa đất 292, tờ bản đồ số 13 tại tổ 12, phường Tân Lập, TPTN là vô hiệu.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Vũ Thị Thuấn và ông Trần Văn Võ.

– Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Đỗ Ánh Hồng và ông Trần Văn Võ lập tại văn phòng công chứng Trung Thành, TPTN ngày 08/01/2013.

– UBND TPT có trách nhiệm cấp lại giấy CNQSD đất vị trí thửa 292, tờ bản đồ số 13 thuộc tổ 12 phường Tân lập, TPTN, diện tích 380m2, trong đó có 100m2 đất ở đo thị và 280m2 đất vườn cho hộ bà Thuấn và ông Võ theo quy định pháp luật.

– bà Thuấn, ông Võ có trách nhiệm liên hệ với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai TPTN để được hướng dẫn làm thủ tục cấp lại giấy CNQSD đất của hộ gia đình.

  1. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Do các bên không cung cấp được chứng cứ gốc nên không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong vụ án này.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 6 năn 2019 nguyên đơn bà Đỗ Ánh Hồng có đơn kháng cáo.

Bản án dân sự phúc thẩm số 77/2019/DS-PT ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đỗ Ánh Hồng. Hủy bản án số 25 ngày 24/6/2019 của Tòa án TPTN, giao hồ sơ cho Tòa án TPTN giải quyết vụ án theo quy định.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bà Hồng đều xác định, ngày 08/01/2013 bà Vũ Thị Thuấn, ông Trần Văn Võ có chuyển nhượng cho bà QSD đất và tài sản là nhà trên đất, vị trí thửa đất số 292, tờ bản đồ 13 địa chỉ thửa đất tại tổ 12, phường Tân Lập, TPTN. Việc chuyển nhượng đã được thực hiện tại phòng công chứng Trung Thành, TPTN. Sau khi ông Võ bà Thuấn nhận 300.000.000đ của bà Hồng thì có đưa giấy CNQSD đất cho bà Hồng, để bà làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất. Ngày 02/8/2013 bà Hồng đã được cấp giấy CNQSD đất mang tên Đỗ Ánh Hồng. Do chưa thu xếp được chỗ ở nên bà Thuấn ông Võ có mượn lại tài sản gồm nhà và đất trên để ở. Từ khi mua bán xong bà được cấp giấy CNQSD đất không có ai thắc mắc và khiếu kiện gì. Ngày 20/4/2013 do có nhu cầu cần sử dụng nên bà Hồng đã yêu cầu bà Thuấn bàn giao nhà, đất. Bà Hồng đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông Võ bà Thuấn không trả, do vậy bà Hồng đã gửi đơn nhờ UBND phường Tân Lập can thiệp. Tại biên bản hòa giải ngày 13/9/2013 ông Võ bà Thuấn thừa nhận đã nhận số tiền 300.000.000đ của bà Hồng và xin ở nhờ nhà và đất của bà Hồng là có thật. Nhưng sau đó bà Thuấn lại thay đổi không thừa nhận có việc mua bán và nhận tiền nữa.

Tại Biên bản hòa giải ngày 27/10/2014 bà Thuấn thừa nhận có vay của bà Hồng số tiền 300.000.000đ, ý kiến của ông Võ bà Thuấn nhất trí khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận, gia đình bà Thuấn trả lại tiền cho gia đình bà Hồng theo hợp đồng. Tại biên bản hòa giải ngày 4/5/2015 Luật sư Mai Xuân Hải (bảo vệ quyền lợi cho bà Thuấn) nhất trí tuyên bố hợp đồng vô hiệu trả lại cho nhau những gì đã nhận theo hợp đồng. Nay bà Hồng xem xét theo quy định pháp luật.

Phía bị đơn bà Thuấn trình bày: Ngày 08/10/2013 bà Thuấn, ông Võ có lập hợp đồng CNQSD đất cho bà Hồng việc thiết lập hợp đồng có mặt bà và ông Võ chồng bà ký hợp đồng, việc ký là tự nguyện không bị ép buộc, sau khi ký hợp đồng bà đã giao cho bà Hồng giấy CNQSD đất, bà có giữ 01 bộ hợp đồng mà các bên đã ký. Từ khi ký hợp đồng với bà hồng cho đến khi bà Hồng làm đơn khởi kiện vợ chồng bà chứ bà cũng không làm đơn khởi kiện bà Hồng, mãi đến năm 2014 bà mới làm đơn phản tố yêu cầu hủy hợp đồng CNQSD đất với bà Hồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Thuấn thừa nhận bà có ký vào giấy vay nợ với bà Hồng số tiền 300.000.000đ đến nay bà vẫn chưa trả khoản nợ này cho bà Hồng. Cũng tại phiên tòa, phía bị đơn là bà Thuấn cũng thừa nhận bản chất của sự việc là giao dịch vay tài sản, để đảm bảo cho khoản vay 300.000.000đ bà Thuấn đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với bà Hồng. Số tiền 300.000.000đ thực chất là tiền vay, không phải là tiền chuyển nhượng QSD đất và tài sản trên đất. Như vậy có căn cứ xác định bà Thuấn đã nhận tiền của bà Hồng số tiền 300.000.000đ. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết trong vụ án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hồng, mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Dẫn đến vụ án bị hủy để chuyển hồ sơ cho Tòa án TPTN giải quyết lại theo thủ tục chung.

Qua vụ án trên, Phòng 9 – VKS tỉnh thông báo đến các VKSND huyện, thành phố, thị xã nghiên cứu và rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự trong thời gian tới./.

                                                                                   ĐT – Phòng 9

 

KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC VI PHẠM TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ

15 Tháng Mười Một, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy đã có vi phạm tố tụng về thời hạn ban hành một số quyết định, cụ thể:

1. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 80, ngày 23/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, giữa:

– Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trinh, sinh năm 1983.Địa chỉ: xóm Đồng Vượng, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ở hiện nay: Thôn Bản Là 2, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

– Bị đơn: Anh La Tiến Được, sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm Đồng Vượng, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Tòa án nhân dân huyện Định Hóa lập biên bản hòa giải thành ngày 16/8/2019, đến ngày 23/8/2019 ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuân của các đương sự.

2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 06, ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, giữa:

– Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1987.Địa chỉ: Xóm Hồ 1, xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

– Bị đơn: Chị Lăng Thị Trang, sinh năm 1991.Địa chỉ: xóm Đức Phú, xã Phúc Thuận, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên lập biên bản hòa giải thành ngày 22/8/2019, đến ngày 29/8/2019 ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Việc Tòa án nhân dân huyện Định Hóa và Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự như trên là chưa hết thời hạn 07 ngày theo quy định pháp luật tại các Điều 147, 148 Bộ luật dân sự, ảnh hưởng đến quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, vi phạm khoản 1 Điều 212 BLTTDS.

Nội dung Khoản 1 Điều 212 Bộ luật dân sựquy định như sau:

“1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc… phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự…”

Để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kiến nghị yêu cầuTòa án nhân dâncác huyện, thị xãcó vi phạm; đồng thời có biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức rút kinh nghiệm và khắc phục không để những vi phạm tương tự xảy ra./.

ĐỖ THỦY- PHÒNG 9

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM DO THIẾU SÓT TRONG QUÁ TRÌNH THU THẬP CHỨNG CỨ

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Ông Đỗ Thế Sơn và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn cụ Trần Thị Nga trình bày: Nguồn gốc đất đang tranh chấp với ông Việt là của mẹ ông là cụ Trần Thị Nga mua từ năm 1954, cụ Nga và các con sinh sống ở đó đến năm 1965 đi sơ tán về huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1983 cụ cho vợ chồng ông Đỗ Thế Việt (con trai cả) làm nhà để ở. Từ khi cụ Nga còn sống vẫn nói với mọi người trong gia đình chỉ cho ông Việt ½ mảnh đất đang ở, cụ Nga cũng nói với vợ chồng ông Việt lấy lại một phần diện tích đất, ông Việt cũng đã hứa sẽ trả lại nhưng đến năm 2011 ông Việt không trả nên cụ Nga đã làm đơn khởi kiện ông Việt trả lại 8m đất bám mặt đường, chiều sâu hết đất, theo kết quả thẩm định tại chỗ ngày 04/12/2015 diện tích đất có tranh chấp là 137,87m2 trong đó có 49,61m2 ông Việt đã xây nhà. Quá trình giải quyết vụ án những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Nga (đại diện là ông Sơn) chỉ đề nghị Tòa án giải quyết   vợ chồng ông Việt trả lại 87,67m2 đất thuộc thửa 44, tờ bản đồ số 23 thuộc tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên (đã trừ diện tích ông Việt xây nhà 49,61m2) cho các đồng thừa kế của cụ Trần Thị Nga.

Bị đơn ông Đỗ Thế Việt trình bày: Ông thừa nhận nguồn gốc đất là của bố mẹ ông (cụ Trần Thị Nga và cụ Đỗ Đình Mỵ) nhưng bố mẹ đã cho ông sử dụng từ năm 1983, theo chủ trương của nhà nước về việc cấp đất cho cán bộ, công nhân viên xây nhà, ông có làm đơn gửi UBND phường Quan Triều xin được làm nhà trên diện tích đó, khi đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông làm nhà tạm trên toàn bộ diện tích đó. Năm 1990 ông đóng thuế trước bạ với Nhà nước, năm 2006 ông làm đơn kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 06/6/2008 ông được  UBND thành phố Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 246,4m2  (trong đó có 200m2 đất ở đô thị,  46,4m2 đất trồng cây lâu năm)  thuộc thửa 44, tờ bản đồ số 23 thuộc tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên. Ông không nhất trí trả lại.

Quá trình giải quyết vụ án

Bản án số 51/2018/TLDS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Áp dụng Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 12, Điều 166 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

– Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người thừa kế quyền và nghĩa vụ, đại diện ủy quyền ông Đỗ Thế Sơn đòi lại diện tích 87,67m2 đất đối với ông Đỗ Thế Việt thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 23, tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

– Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích đất tranh chấp 87,67m2 nằm trong diện tích 246,4m2, thửa số 44, tờ bản đồ số 23, tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã được UBND thành phố Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 972744 ngày 06/6/2008 mang tên ông Đỗ Thế Việt và Đỗ Thị Lộc (có sơ đồ kèm theo).

– Về án phí: Ông Đỗ Thế Sơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là 11.558.050đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Nga đã nộp 6.000.000đ theo biên lai số 0002173 ngày 21/11/2011 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Nay ông Đỗ Thế Sơn còn phải nộp 5.558.050đ.

– Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Thế Sơn phải chịu chi phí thẩm định, định giá, đo đạc là 6.400.000đ (đã thực hiện xong).

Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Ngày 02/01/2019 ông Sơn kháng cáo toàn bộ bản án vì nguồn gốc đất là của bố mẹ ông nay Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện là không có căn cứ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thừa kế quyền và nghĩa vụ. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét.

Tại bản án phúc thẩm số 42/2019/DS-PT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 51/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Nguồn gốc 246,4m2 mà ông Việt đang quản lý, sử dụng ông Sơn và ông Việt đều thừa nhận là của bố mẹ (cụ Trần Thị Nga và cụ Đỗ Đình Mỵ). Ông Việt cho rằng được bố mẹ cho, tuy nhiên không có giấy tờ. Ông Sơn cho rằng cụ Trần Thị Nga chưa cho ông Việt toàn bộ diện tích 246,4m2 bao giờ mà chỉ cho ông Việt  ½ diện tích đó được thể hiện từ khi cụ Nga còn sống đã viết bản di chúc được  UBND xã Thắng Quân, tỉnh Tuyên Quang xác nhận ngày 20/8/1995, mặt khác khi còn sống cụ Nga đã có đơn đề nghị UBND phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên từ năm 2005 trước thời điểm ông Việt được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó cụ Nga yêu cầu ông Việt trả nhưng ông Việt không trả nên năm 2011 cụ Nga khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Như vậy yêu cầu của cụ Nga lấy lại ½ là có căn cứ hiện nay cụ Nga đã mất, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Nga chỉ yêu cầu ông Việt trả cho cho các anh em 87,67m2 là có cơ sở.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nhận định ông Việt sử dụng diện tích đất đó lâu năm, đã đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên bác yêu cầu của ông Sơn đại diện cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Nga là chưa phù hợp, không đúng quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên chưa đo đạc thực tế diện tích đất ông Sơn yêu cầu ông Việt trả 87,76m2 ở đâu, có bao nhiêu m2 đất thổ cư ? Bao nhiêu m2 đất vườn tạp? Tứ cận ra sao? Trên đất đó có những tài sản gì? Như vậy, việc thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên chưa đầy đủ, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.

Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ vụ án chưa phát hiện ra thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ của Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người thừa kế quyền và nghĩa vụ, đại diện ủy quyền ông Đỗ Thế Sơn đòi lại diện tích 87,67m2 đất đối với ông Đỗ Thế Việt thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ 23 thuộc tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên (xác định nguồn gốc do mẹ ông khai phá nhưng bà Nga đã không quản lý sử dụng từ năm 1964, ông Việt là người quản lý từ năm 1972 đến nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên diện tích đất là quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Việt) làchưa phù hợp, không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyênđã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

                                                                                                                       PHÒNG 9

HÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM  DO VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG THỦ TỤC TỐ TỤNG

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Nguyên đơn bà Ngô Thị Thành đề nghị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa giải quyết buộc gia đình anh Hoàng Tiến Thành phải trả cho bà 43,05m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay địa chỉ thửa đất tại xóm Bản Mới, xã Kim Phượng) bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 830m2. Thửa đất này gia đình bà khai phá sử dụng từ năm 1970. Năm 1987 anh Thành san ủi phần đất phía sau nhà bà để làm nhà và các công trình khác, khi san ủi và làm công trình phụ lên cả phần đất của gia đình bà (trước đó là chuồng trâu của gia đình bà). Tháng 4/2010 khi gia đình bà đang thi công xây nhà ở thì anh Thành đóng cọc sát tả ly và chân tường cũ nhà bà nên xảy ra tranh chấp.

Bị đơn anh Hoàng Tiến Thành không nhất trí, cho rằng diện tích đất hiện nay anh đang sử dụng (trong đó có cả phần diện tích bà Ngô khởi kiện) nguồn gốc của bố mẹ anh khai phá, sử dụng ổn định từ năm 1955, năm 1984- 1985  gia đình anh san ủi tạo mặt bằng, năm 1987 sau khi lấy vợ ra ở riêng anh tiếp tục san ủi để làm nhà sử dụng ổn định đến 2010 khi bà Ngô làm nhà mới, bà Ngô đào đất vào đất của gia đình anh, anh đã rào lại không cho đào, bà Ngô cho rằng gia đình anh đang sử dụng phần đất gia đình bà Ngô đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khởi kiện cho rằng anh lấn chiếm là không có căn cứ, anh không chấp nhận.

Bản án sơ thẩm  số 04/ 2018/DSST ngày  18/10/2018 Quyết định:

Áp dụng: Điều 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 271, 273/BLTTDS năm 2015; Khoản 1 Điều 2, khoản 3 Điều 36 Luật đất đai năm 1993;  điểm b khoản 3, phần II, Thông tư 302 ngày 28/10/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất hướng dẫn thi hành quyết định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Các Điều 100, 166, 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

– Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị Ngô về việc yêu cầu anh Nguyễn Tiến Thành phải trả diện tích 43,05m2 đất tại thửa 96 tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 xã Kim Phượng thuộc xóm Bản Mới, xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

– Công nhận diện tích 43,05m2 đất thổ cư tại thửa 96 tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay nằm trong tổng diện tích 328,2m2, phần từ tường bao của gia đình anh Thành trở lên tại thửa đất số 217 tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính  xã Kim Phượng) thuộc xóm Bản Mới, xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên thuộc quyền sử dụng của gia đình anh Hoàng Tiến Thành, chị Dương Thị Hà (có trích lục bản đồ địa chính, sơ đồ thửa đất đang tranh chấp kèm theo)

– Anh Hoàng Tiến Thành, chị Dương Thị Hà có trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Án phí: Bà Ngô được miễn án phí (hộ nghèo)

Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Sau khi vụ án xét xử xong ngày 29/10/2018 bà Phùng Thị Ngô (nguyên đơn) có đơn kháng cáo: Nội dung kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại bản án phúc thẩm số 41/2019/DS-PT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Năm 2010 bà Phùng Thị Ngô có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Định Hóa giải quyết buộc gia đình anh Hoàng Tiến Thành phải trả cho bà 43,05m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính xã Kim Phượng có tổng diện tích là 681,0m2 ). Ngày 30/8/2011 thẩm phán Hoàng Văn Kiểm đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do bà Phùng Thị Ngô có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện.

Ngày 29/01/2018 bà Phùng Thị Ngô lại có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Định Hóa giải quyết buộc gia đình anh Hoàng Tiến Thành phải trả cho bà 43,05m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính xã Kim Phượng có tổng diện tích là 681,0 m2). Tòa án nhân dân huyện Định Hóa thụ lý giải quyết vụ án theo quy định. Thẩm phán Hoàng Văn Kiểm tiếp tục là người giải quyết vụ án và ra bản án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 3 Điều 53 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong trường hợp này thẩm phán Hoàng Văn Kiểm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc phải bị thay đổi mới tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.

Kiểm sát viên kiểm sát thông báo về việc thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án, nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên tòa sơ thẩm đã không phát hiện được vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa nâng cao được vị trí, vai trò và trách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau phiên tòa dân sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyênđã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

                                                                                                             PHÒNG 9

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN” BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM  ĐỂ GIẢI QUYẾT LẠI

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Năm 1994 ông Cao Viết Cửu ký hợp đồng thuê khoán đất của Nông trường Chè (nay là Công Ty Chè Phú Lương) diện tích 48.404m2 thuộc tờ bản đồ 97 đo đạc năm 1998. Do tuổi cao nên ông Cửu nhờ anh Cao Văn Hoan (con trai) đứng tên ký hợp đồng nhận khoán. Sau khi ký hợp đồng ông Cửu và bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1943 (sống chung như vợ chồng ông Cửu) là người trực tiếp canh tác trồng keo, chè, quản lý sử dụng diện tích đất thuê, đóng góp nghĩa vụ với nông trường và địa phương. Năm 2011 ông Cửu đã làm nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất thuê (có vay vốn Ngân hàng chính sách 8.000.000đ). Đến cuối năm 2013 ông Cửu ốm phải đi viện, bà Hoa đưa con gái về quê Hưng Yên sinh sống. Anh Hoan tự ý đến ở và canh tác trên diện tích đất đó.  Năm 2014 ông Cửu khởi kiện đòi anh Hoan trả lại nhà cửa, đất đai cho ông. Năm 2016 ông Cửu chết anh Hoan ký lại hợp đồng thuê khoản đất và ở trên diện tích đất khoán cho đến nay. Anh có cam kết trả nợ Ngân hàng cho ông Cửu nhưng hiện nay chưa trả xong.

Quá trình giải quyết vụ án:

Anh Huy người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Cửu đề nghị anh Hoan trả  120.000.000đ thì không yêu cầu trả tài sản.

Bà Kho vợ ông Cửu có quan điểm giống anh Huy.

Các con của ông Cửu với bà Kho gồm chị Thu, chị Liên, anh Tám, anh Mùi đề nghị anh Hoan trả tài sản và chia tài sản ông Cửu để lại cho các thành viên của gia đình.

Bà Hoa (người sống chung như vự chồng với ông Cửu từ năm 1979 – 2013) đề nghị xem xét đến công sức của bà xây dựng khối tài sản.

 Bản án sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương:

Áp dụng: Điều 25, 26, 27, 35, 39, 46, 74, 147, 171, 225, 227, 236, 264, 266, 271, 273/BLTTDS; Điều 483, 484, 487/BLDS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí.

Tuyên xử:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Viết Cửu, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng anh Cao Viết Huy.

– Anh Cao Viết Hoan phải thanh toán giá trị tài sản bằng tiền cho anh Cao Viết Huy là 86.932.000đ.

– Anh Cao Văn Hoan được quyền sử dụng toàn bộ các tài sản hiện có gồm: Nhà và toàn bộ cây cối hoa màu trên diện tích được giao khoán. Tổng giá trị tài sản quy thành tiền: 86.738.000đ.

– Ghi nhận sự thỏa thuận anh Cao Viết Huy có trách nhiệm thanh toán số tiền 8.000.000đ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Lương khi đến hạn thanh toán.

– Án phí: anh Cao Viết Huy được miễn toàn bộ án phí, anh Cao Văn Hoan phải nộp 4.330.000đ

Ngày 05/9/2018 anh Cao Viết Huy có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại bản án phúc thẩm số 28/2019/DSPT ngày 22/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận đơn kháng cáo của anh Huy, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, chuyển hồ sơ vụ án để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

2.1. Vi phạm về xác định tư cách tham gia tố tụng

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn, bị đơn xác định: Ông Cao Viết Cửu (mất ngày 23/7/2016) và bà Đỗ Thị Kho sinh được 8 người con là Cao Văn Ngọ (đã chết); Cao văn Hoan; Cao Văn Minh; Cao Thị Niên; Cao Văn Thìn (đã chết); Cao Văn Mùi và Cao văn Tám. Trong quá trình giải quyết vụ án sau khi ông Cửu chết, anh Huy có đơn đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ việc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng anh Cao Viết Huy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ là đúng, tuy nhiên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định một mình anh Huy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ là chưa đầy đủ vì những người thừa kế tài sản của ông Cửu không có văn bản thống nhất cử người đại diện quyền và nghĩa vụ tố tụng là vi phạm Điều 74 BLTTDS.

Trong vụ án này còn có 4 người con chung của ông Cửu và bà Hoa (người sống chung như vự chồng với ông Cửu) là các chị Cao Thị Chung, Cao Thị Hà, Cao Thị Thủy, Cao Thị Vui. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tuy nhiên trong hồ sơ không có  bản tự khai của họ về yêu cầu đối với phần tài sản của ông Cửu để lại, không được triệu tập tham gia hòa giải, công khai chứng cứ là vi phạm Điều 70, Điều 209 BLTTDS.

2.2. Vi phạm về thủ tục ủy quyền

Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND huyện Phú Lương là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn Toàn (Phó trưởng phòng) và bà Nguyễn Thị Huệ chuyên viên nhưng trong hồ sơ không có văn bản ủy quyền là vi phạm Điều 85 BLTTDS

Xét thấy Bản án sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm đã không phát hiện được vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là thiếu sót, quá trình kiểm sát bản án không nhận  diện được vi phạm là chưa nâng cao được vị trí, vai trò và trách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau phiên tòa dân sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

PHÒNG 9

Page 1 of 41234