Tag Archives: phòng 9

PHÒNG 9 TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

25 Tháng Ba, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 13/3/2020, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp với TAND cùng cấp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa: Nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Đăng, sinh năm 1973,địa chỉ: Tổ 31, phường Hương Sơn, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với bị đơn ông Vũ Ngọc Châu,sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1954, địa chỉ: Tổ 10, phường Mỏ Chè, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Hồng Được, sinh năm 1995, địa chỉ TDP Ưng, phường Thắng Lợi, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và anh Vũ Thanh Sơn, sinh năm 1981, địa chỉ Tổ 10, phường Mỏ Chè, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, phân tích, tổng hợp toàn bộ chứng cứ, tài liệu, lập hồ sơ kiểm sát, dự kiến các tình huống và xử lý các tình huống tại phiên tòa, lập đề cương hỏi đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, của đương sự và những người tham gia phiên tòa, đồng thời căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, kiểm sát viên đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi kết thúc phiên tòa, Phòng đã tổ chức họp rút kinh nghiệm đối với đồng chí Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đồng thời cũng rút kinh nghiệm chung cho công tác kiểm sát giải quyết án dân sự trong đơn vị. Từ đó đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình hiện nay.

                                                                                                                  PHÒNG 9

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM Đối với bản án dân sự có vi phạm, bị Tòa án cấp Phúc thẩm xử hủy để giải quyết lại

3 Tháng Ba, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét thấy:

Tại Bản án số: 25 ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết vụ án “Tranh chấp HĐCN QSD đất và tài sản gắn liền với đất” giữa:

Nguyên đơn:Đỗ Ánh Hồng, sinh năm 1964.

Trú tại: SN 53, Tổ 11, phường Trung Thành, TPTN, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Vũ Thị Thuấn, sinh năm 1961; ông Trần Văn Võ, sinh năm 1962;

Đều trú tại: Tổ 12, phường Tân Lập, TPTN, tỉnh Thái Nguyên.

Còn có những vi phạm thiếu sót cần rút kinh nghiệm như sau:

Nội dung vụ án:

Theo nguyên đơn bà Đỗ Ánh Hồng: Ngày 08/01/2013 bà Vũ Thị Thuấn và ông Trần Văn Võ có chuyển nhượng cho bà Đỗ Ánh Hồng QSD đất và tài sản là nhà trên đất, vị trí thửa đất số 299, tờ bản đồ 13, địa chỉ thửa đất tại tổ 12, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên. Việc chuyển nhượng đã được thực hiện qua phòng công chứng Trung Thành, thành phố Thái Nguyên. Do chưa thu xếp được chỗ ở nên bà Thuấn và ông Võ có mượn lại tài sản gồm nhà và đất nêu trên của bà để ở.

Đến ngày 20/4/2013 bà Hồng có nhu cầu sử dụng nên đã yêu cầu bà Thuấn, ông Võ phải trả lại tài sản trên cho bà, mặc dù bà đã yêu cầu rất nhiều nhưng bà Thuấn, ông Võ không trả lại tài sản. Đến ngày 02/8/2013 bà Hồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa 299 tờ bản đồ số 13. Bà Hồng gửi đơn nhờ chính quyền địa phương can thiệp, ngày 13/9/2013 UBND phường Tân Lập đã tiến hành hòa giải, bà Thuấn, ông Võ có đề nghị bà cho mượn tiếp sáu tháng nữa để thu xếp chỗ ở và trả nhà, đất cho bà. Gia đình bà Thuấn hẹn đến ngày 13/3/2014 sẽ giao trả toàn bộ nhà đất cho bà Hồng.

Ngày 13/3/2014 bà Hồng có lên tiếp quản tài sản theo đúng cam kết nhưng ông Võ, bà Thuấn không trả và còn gây khó khăn cho bà.

Nay bà Hồng yêu cầu ông Võ, bà Thuấn phải trả lại tài sản cho bà  gồm nhà và đất tại thửa 299, tờ bản đồ số 13 thuộc tổ 12, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên.

Theo bị đơn trình bày: Ngày 08/01/2013 vợ chồng bà cho chị Vũ Thị Thủy mượn giấy CNQSD đất để thế chấp vay tiền bà Hồng 300.000.000đ, vợ chồng bà có đến Văn phòng công chứng Trung Thành để làm thủ tục. Do bà Hồng cam kết miệng là ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản và tài sản trên đất chỉ để làm tin nên vợ chồng bà đồng ý ký hợp đồng. Giấy CNQSD đất và giấy vay tiền bà Hồng giữ, vợ chồng bà chỉ cầm bản phô tô giấy vay tiền và Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn (bà Thuấn, ông Võ) có đơn phản tố yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất nêu trên.

Bản án sơ thẩm số 25 ngày 24/6/2019 của Tòa án TPTN đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Ánh Hồng về việc kiện đòi tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất đối với bị đơn bà Vũ Thị Thuấn, ông Trần Văn Võ.
  2. Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 08/1/2013 giữa bà Đỗ Ánh Hồng và bà Vũ Thị Thuấn, ông Trần Văn Võ tại thửa đất 292, tờ bản đồ số 13 tại tổ 12, phường Tân Lập, TPTN là vô hiệu.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Vũ Thị Thuấn và ông Trần Văn Võ.

– Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Đỗ Ánh Hồng và ông Trần Văn Võ lập tại văn phòng công chứng Trung Thành, TPTN ngày 08/01/2013.

– UBND TPT có trách nhiệm cấp lại giấy CNQSD đất vị trí thửa 292, tờ bản đồ số 13 thuộc tổ 12 phường Tân lập, TPTN, diện tích 380m2, trong đó có 100m2 đất ở đo thị và 280m2 đất vườn cho hộ bà Thuấn và ông Võ theo quy định pháp luật.

– bà Thuấn, ông Võ có trách nhiệm liên hệ với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai TPTN để được hướng dẫn làm thủ tục cấp lại giấy CNQSD đất của hộ gia đình.

  1. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Do các bên không cung cấp được chứng cứ gốc nên không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong vụ án này.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 6 năn 2019 nguyên đơn bà Đỗ Ánh Hồng có đơn kháng cáo.

Bản án dân sự phúc thẩm số 77/2019/DS-PT ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đỗ Ánh Hồng. Hủy bản án số 25 ngày 24/6/2019 của Tòa án TPTN, giao hồ sơ cho Tòa án TPTN giải quyết vụ án theo quy định.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bà Hồng đều xác định, ngày 08/01/2013 bà Vũ Thị Thuấn, ông Trần Văn Võ có chuyển nhượng cho bà QSD đất và tài sản là nhà trên đất, vị trí thửa đất số 292, tờ bản đồ 13 địa chỉ thửa đất tại tổ 12, phường Tân Lập, TPTN. Việc chuyển nhượng đã được thực hiện tại phòng công chứng Trung Thành, TPTN. Sau khi ông Võ bà Thuấn nhận 300.000.000đ của bà Hồng thì có đưa giấy CNQSD đất cho bà Hồng, để bà làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất. Ngày 02/8/2013 bà Hồng đã được cấp giấy CNQSD đất mang tên Đỗ Ánh Hồng. Do chưa thu xếp được chỗ ở nên bà Thuấn ông Võ có mượn lại tài sản gồm nhà và đất trên để ở. Từ khi mua bán xong bà được cấp giấy CNQSD đất không có ai thắc mắc và khiếu kiện gì. Ngày 20/4/2013 do có nhu cầu cần sử dụng nên bà Hồng đã yêu cầu bà Thuấn bàn giao nhà, đất. Bà Hồng đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông Võ bà Thuấn không trả, do vậy bà Hồng đã gửi đơn nhờ UBND phường Tân Lập can thiệp. Tại biên bản hòa giải ngày 13/9/2013 ông Võ bà Thuấn thừa nhận đã nhận số tiền 300.000.000đ của bà Hồng và xin ở nhờ nhà và đất của bà Hồng là có thật. Nhưng sau đó bà Thuấn lại thay đổi không thừa nhận có việc mua bán và nhận tiền nữa.

Tại Biên bản hòa giải ngày 27/10/2014 bà Thuấn thừa nhận có vay của bà Hồng số tiền 300.000.000đ, ý kiến của ông Võ bà Thuấn nhất trí khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận, gia đình bà Thuấn trả lại tiền cho gia đình bà Hồng theo hợp đồng. Tại biên bản hòa giải ngày 4/5/2015 Luật sư Mai Xuân Hải (bảo vệ quyền lợi cho bà Thuấn) nhất trí tuyên bố hợp đồng vô hiệu trả lại cho nhau những gì đã nhận theo hợp đồng. Nay bà Hồng xem xét theo quy định pháp luật.

Phía bị đơn bà Thuấn trình bày: Ngày 08/10/2013 bà Thuấn, ông Võ có lập hợp đồng CNQSD đất cho bà Hồng việc thiết lập hợp đồng có mặt bà và ông Võ chồng bà ký hợp đồng, việc ký là tự nguyện không bị ép buộc, sau khi ký hợp đồng bà đã giao cho bà Hồng giấy CNQSD đất, bà có giữ 01 bộ hợp đồng mà các bên đã ký. Từ khi ký hợp đồng với bà hồng cho đến khi bà Hồng làm đơn khởi kiện vợ chồng bà chứ bà cũng không làm đơn khởi kiện bà Hồng, mãi đến năm 2014 bà mới làm đơn phản tố yêu cầu hủy hợp đồng CNQSD đất với bà Hồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Thuấn thừa nhận bà có ký vào giấy vay nợ với bà Hồng số tiền 300.000.000đ đến nay bà vẫn chưa trả khoản nợ này cho bà Hồng. Cũng tại phiên tòa, phía bị đơn là bà Thuấn cũng thừa nhận bản chất của sự việc là giao dịch vay tài sản, để đảm bảo cho khoản vay 300.000.000đ bà Thuấn đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với bà Hồng. Số tiền 300.000.000đ thực chất là tiền vay, không phải là tiền chuyển nhượng QSD đất và tài sản trên đất. Như vậy có căn cứ xác định bà Thuấn đã nhận tiền của bà Hồng số tiền 300.000.000đ. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết trong vụ án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hồng, mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Dẫn đến vụ án bị hủy để chuyển hồ sơ cho Tòa án TPTN giải quyết lại theo thủ tục chung.

Qua vụ án trên, Phòng 9 – VKS tỉnh thông báo đến các VKSND huyện, thành phố, thị xã nghiên cứu và rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự trong thời gian tới./.

                                                                                   ĐT – Phòng 9

 

KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC VI PHẠM TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ

15 Tháng Mười Một, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy đã có vi phạm tố tụng về thời hạn ban hành một số quyết định, cụ thể:

1. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 80, ngày 23/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, giữa:

– Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trinh, sinh năm 1983.Địa chỉ: xóm Đồng Vượng, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ở hiện nay: Thôn Bản Là 2, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

– Bị đơn: Anh La Tiến Được, sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm Đồng Vượng, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Tòa án nhân dân huyện Định Hóa lập biên bản hòa giải thành ngày 16/8/2019, đến ngày 23/8/2019 ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuân của các đương sự.

2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 06, ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, giữa:

– Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1987.Địa chỉ: Xóm Hồ 1, xã Minh Đức, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

– Bị đơn: Chị Lăng Thị Trang, sinh năm 1991.Địa chỉ: xóm Đức Phú, xã Phúc Thuận, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên lập biên bản hòa giải thành ngày 22/8/2019, đến ngày 29/8/2019 ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Việc Tòa án nhân dân huyện Định Hóa và Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự như trên là chưa hết thời hạn 07 ngày theo quy định pháp luật tại các Điều 147, 148 Bộ luật dân sự, ảnh hưởng đến quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, vi phạm khoản 1 Điều 212 BLTTDS.

Nội dung Khoản 1 Điều 212 Bộ luật dân sựquy định như sau:

“1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc… phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự…”

Để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kiến nghị yêu cầuTòa án nhân dâncác huyện, thị xãcó vi phạm; đồng thời có biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức rút kinh nghiệm và khắc phục không để những vi phạm tương tự xảy ra./.

ĐỖ THỦY- PHÒNG 9

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM DO THIẾU SÓT TRONG QUÁ TRÌNH THU THẬP CHỨNG CỨ

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Ông Đỗ Thế Sơn và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn cụ Trần Thị Nga trình bày: Nguồn gốc đất đang tranh chấp với ông Việt là của mẹ ông là cụ Trần Thị Nga mua từ năm 1954, cụ Nga và các con sinh sống ở đó đến năm 1965 đi sơ tán về huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1983 cụ cho vợ chồng ông Đỗ Thế Việt (con trai cả) làm nhà để ở. Từ khi cụ Nga còn sống vẫn nói với mọi người trong gia đình chỉ cho ông Việt ½ mảnh đất đang ở, cụ Nga cũng nói với vợ chồng ông Việt lấy lại một phần diện tích đất, ông Việt cũng đã hứa sẽ trả lại nhưng đến năm 2011 ông Việt không trả nên cụ Nga đã làm đơn khởi kiện ông Việt trả lại 8m đất bám mặt đường, chiều sâu hết đất, theo kết quả thẩm định tại chỗ ngày 04/12/2015 diện tích đất có tranh chấp là 137,87m2 trong đó có 49,61m2 ông Việt đã xây nhà. Quá trình giải quyết vụ án những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Nga (đại diện là ông Sơn) chỉ đề nghị Tòa án giải quyết   vợ chồng ông Việt trả lại 87,67m2 đất thuộc thửa 44, tờ bản đồ số 23 thuộc tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên (đã trừ diện tích ông Việt xây nhà 49,61m2) cho các đồng thừa kế của cụ Trần Thị Nga.

Bị đơn ông Đỗ Thế Việt trình bày: Ông thừa nhận nguồn gốc đất là của bố mẹ ông (cụ Trần Thị Nga và cụ Đỗ Đình Mỵ) nhưng bố mẹ đã cho ông sử dụng từ năm 1983, theo chủ trương của nhà nước về việc cấp đất cho cán bộ, công nhân viên xây nhà, ông có làm đơn gửi UBND phường Quan Triều xin được làm nhà trên diện tích đó, khi đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông làm nhà tạm trên toàn bộ diện tích đó. Năm 1990 ông đóng thuế trước bạ với Nhà nước, năm 2006 ông làm đơn kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 06/6/2008 ông được  UBND thành phố Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 246,4m2  (trong đó có 200m2 đất ở đô thị,  46,4m2 đất trồng cây lâu năm)  thuộc thửa 44, tờ bản đồ số 23 thuộc tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên. Ông không nhất trí trả lại.

Quá trình giải quyết vụ án

Bản án số 51/2018/TLDS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Áp dụng Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 12, Điều 166 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

– Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người thừa kế quyền và nghĩa vụ, đại diện ủy quyền ông Đỗ Thế Sơn đòi lại diện tích 87,67m2 đất đối với ông Đỗ Thế Việt thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 23, tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

– Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích đất tranh chấp 87,67m2 nằm trong diện tích 246,4m2, thửa số 44, tờ bản đồ số 23, tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã được UBND thành phố Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 972744 ngày 06/6/2008 mang tên ông Đỗ Thế Việt và Đỗ Thị Lộc (có sơ đồ kèm theo).

– Về án phí: Ông Đỗ Thế Sơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là 11.558.050đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Nga đã nộp 6.000.000đ theo biên lai số 0002173 ngày 21/11/2011 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Nay ông Đỗ Thế Sơn còn phải nộp 5.558.050đ.

– Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Thế Sơn phải chịu chi phí thẩm định, định giá, đo đạc là 6.400.000đ (đã thực hiện xong).

Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Ngày 02/01/2019 ông Sơn kháng cáo toàn bộ bản án vì nguồn gốc đất là của bố mẹ ông nay Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện là không có căn cứ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thừa kế quyền và nghĩa vụ. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét.

Tại bản án phúc thẩm số 42/2019/DS-PT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 51/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Nguồn gốc 246,4m2 mà ông Việt đang quản lý, sử dụng ông Sơn và ông Việt đều thừa nhận là của bố mẹ (cụ Trần Thị Nga và cụ Đỗ Đình Mỵ). Ông Việt cho rằng được bố mẹ cho, tuy nhiên không có giấy tờ. Ông Sơn cho rằng cụ Trần Thị Nga chưa cho ông Việt toàn bộ diện tích 246,4m2 bao giờ mà chỉ cho ông Việt  ½ diện tích đó được thể hiện từ khi cụ Nga còn sống đã viết bản di chúc được  UBND xã Thắng Quân, tỉnh Tuyên Quang xác nhận ngày 20/8/1995, mặt khác khi còn sống cụ Nga đã có đơn đề nghị UBND phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên từ năm 2005 trước thời điểm ông Việt được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó cụ Nga yêu cầu ông Việt trả nhưng ông Việt không trả nên năm 2011 cụ Nga khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Như vậy yêu cầu của cụ Nga lấy lại ½ là có căn cứ hiện nay cụ Nga đã mất, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Nga chỉ yêu cầu ông Việt trả cho cho các anh em 87,67m2 là có cơ sở.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nhận định ông Việt sử dụng diện tích đất đó lâu năm, đã đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên bác yêu cầu của ông Sơn đại diện cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Nga là chưa phù hợp, không đúng quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên chưa đo đạc thực tế diện tích đất ông Sơn yêu cầu ông Việt trả 87,76m2 ở đâu, có bao nhiêu m2 đất thổ cư ? Bao nhiêu m2 đất vườn tạp? Tứ cận ra sao? Trên đất đó có những tài sản gì? Như vậy, việc thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên chưa đầy đủ, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.

Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ vụ án chưa phát hiện ra thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ của Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người thừa kế quyền và nghĩa vụ, đại diện ủy quyền ông Đỗ Thế Sơn đòi lại diện tích 87,67m2 đất đối với ông Đỗ Thế Việt thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ 23 thuộc tổ 13, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên (xác định nguồn gốc do mẹ ông khai phá nhưng bà Nga đã không quản lý sử dụng từ năm 1964, ông Việt là người quản lý từ năm 1972 đến nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên diện tích đất là quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Việt) làchưa phù hợp, không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyênđã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

                                                                                                                       PHÒNG 9

HÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM  DO VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG THỦ TỤC TỐ TỤNG

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Nguyên đơn bà Ngô Thị Thành đề nghị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa giải quyết buộc gia đình anh Hoàng Tiến Thành phải trả cho bà 43,05m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay địa chỉ thửa đất tại xóm Bản Mới, xã Kim Phượng) bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 830m2. Thửa đất này gia đình bà khai phá sử dụng từ năm 1970. Năm 1987 anh Thành san ủi phần đất phía sau nhà bà để làm nhà và các công trình khác, khi san ủi và làm công trình phụ lên cả phần đất của gia đình bà (trước đó là chuồng trâu của gia đình bà). Tháng 4/2010 khi gia đình bà đang thi công xây nhà ở thì anh Thành đóng cọc sát tả ly và chân tường cũ nhà bà nên xảy ra tranh chấp.

Bị đơn anh Hoàng Tiến Thành không nhất trí, cho rằng diện tích đất hiện nay anh đang sử dụng (trong đó có cả phần diện tích bà Ngô khởi kiện) nguồn gốc của bố mẹ anh khai phá, sử dụng ổn định từ năm 1955, năm 1984- 1985  gia đình anh san ủi tạo mặt bằng, năm 1987 sau khi lấy vợ ra ở riêng anh tiếp tục san ủi để làm nhà sử dụng ổn định đến 2010 khi bà Ngô làm nhà mới, bà Ngô đào đất vào đất của gia đình anh, anh đã rào lại không cho đào, bà Ngô cho rằng gia đình anh đang sử dụng phần đất gia đình bà Ngô đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khởi kiện cho rằng anh lấn chiếm là không có căn cứ, anh không chấp nhận.

Bản án sơ thẩm  số 04/ 2018/DSST ngày  18/10/2018 Quyết định:

Áp dụng: Điều 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 271, 273/BLTTDS năm 2015; Khoản 1 Điều 2, khoản 3 Điều 36 Luật đất đai năm 1993;  điểm b khoản 3, phần II, Thông tư 302 ngày 28/10/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất hướng dẫn thi hành quyết định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Các Điều 100, 166, 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

– Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị Ngô về việc yêu cầu anh Nguyễn Tiến Thành phải trả diện tích 43,05m2 đất tại thửa 96 tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 xã Kim Phượng thuộc xóm Bản Mới, xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

– Công nhận diện tích 43,05m2 đất thổ cư tại thửa 96 tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay nằm trong tổng diện tích 328,2m2, phần từ tường bao của gia đình anh Thành trở lên tại thửa đất số 217 tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính  xã Kim Phượng) thuộc xóm Bản Mới, xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên thuộc quyền sử dụng của gia đình anh Hoàng Tiến Thành, chị Dương Thị Hà (có trích lục bản đồ địa chính, sơ đồ thửa đất đang tranh chấp kèm theo)

– Anh Hoàng Tiến Thành, chị Dương Thị Hà có trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Án phí: Bà Ngô được miễn án phí (hộ nghèo)

Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Sau khi vụ án xét xử xong ngày 29/10/2018 bà Phùng Thị Ngô (nguyên đơn) có đơn kháng cáo: Nội dung kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại bản án phúc thẩm số 41/2019/DS-PT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Năm 2010 bà Phùng Thị Ngô có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Định Hóa giải quyết buộc gia đình anh Hoàng Tiến Thành phải trả cho bà 43,05m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính xã Kim Phượng có tổng diện tích là 681,0m2 ). Ngày 30/8/2011 thẩm phán Hoàng Văn Kiểm đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do bà Phùng Thị Ngô có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện.

Ngày 29/01/2018 bà Phùng Thị Ngô lại có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Định Hóa giải quyết buộc gia đình anh Hoàng Tiến Thành phải trả cho bà 43,05m2 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 12 bản đồ 299 (nay thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính xã Kim Phượng có tổng diện tích là 681,0 m2). Tòa án nhân dân huyện Định Hóa thụ lý giải quyết vụ án theo quy định. Thẩm phán Hoàng Văn Kiểm tiếp tục là người giải quyết vụ án và ra bản án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 3 Điều 53 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong trường hợp này thẩm phán Hoàng Văn Kiểm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc phải bị thay đổi mới tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.

Kiểm sát viên kiểm sát thông báo về việc thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án, nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên tòa sơ thẩm đã không phát hiện được vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa nâng cao được vị trí, vai trò và trách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau phiên tòa dân sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyênđã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

                                                                                                             PHÒNG 9

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN” BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM  ĐỂ GIẢI QUYẾT LẠI

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Năm 1994 ông Cao Viết Cửu ký hợp đồng thuê khoán đất của Nông trường Chè (nay là Công Ty Chè Phú Lương) diện tích 48.404m2 thuộc tờ bản đồ 97 đo đạc năm 1998. Do tuổi cao nên ông Cửu nhờ anh Cao Văn Hoan (con trai) đứng tên ký hợp đồng nhận khoán. Sau khi ký hợp đồng ông Cửu và bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1943 (sống chung như vợ chồng ông Cửu) là người trực tiếp canh tác trồng keo, chè, quản lý sử dụng diện tích đất thuê, đóng góp nghĩa vụ với nông trường và địa phương. Năm 2011 ông Cửu đã làm nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất thuê (có vay vốn Ngân hàng chính sách 8.000.000đ). Đến cuối năm 2013 ông Cửu ốm phải đi viện, bà Hoa đưa con gái về quê Hưng Yên sinh sống. Anh Hoan tự ý đến ở và canh tác trên diện tích đất đó.  Năm 2014 ông Cửu khởi kiện đòi anh Hoan trả lại nhà cửa, đất đai cho ông. Năm 2016 ông Cửu chết anh Hoan ký lại hợp đồng thuê khoản đất và ở trên diện tích đất khoán cho đến nay. Anh có cam kết trả nợ Ngân hàng cho ông Cửu nhưng hiện nay chưa trả xong.

Quá trình giải quyết vụ án:

Anh Huy người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Cửu đề nghị anh Hoan trả  120.000.000đ thì không yêu cầu trả tài sản.

Bà Kho vợ ông Cửu có quan điểm giống anh Huy.

Các con của ông Cửu với bà Kho gồm chị Thu, chị Liên, anh Tám, anh Mùi đề nghị anh Hoan trả tài sản và chia tài sản ông Cửu để lại cho các thành viên của gia đình.

Bà Hoa (người sống chung như vự chồng với ông Cửu từ năm 1979 – 2013) đề nghị xem xét đến công sức của bà xây dựng khối tài sản.

 Bản án sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương:

Áp dụng: Điều 25, 26, 27, 35, 39, 46, 74, 147, 171, 225, 227, 236, 264, 266, 271, 273/BLTTDS; Điều 483, 484, 487/BLDS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí.

Tuyên xử:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Viết Cửu, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng anh Cao Viết Huy.

– Anh Cao Viết Hoan phải thanh toán giá trị tài sản bằng tiền cho anh Cao Viết Huy là 86.932.000đ.

– Anh Cao Văn Hoan được quyền sử dụng toàn bộ các tài sản hiện có gồm: Nhà và toàn bộ cây cối hoa màu trên diện tích được giao khoán. Tổng giá trị tài sản quy thành tiền: 86.738.000đ.

– Ghi nhận sự thỏa thuận anh Cao Viết Huy có trách nhiệm thanh toán số tiền 8.000.000đ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Lương khi đến hạn thanh toán.

– Án phí: anh Cao Viết Huy được miễn toàn bộ án phí, anh Cao Văn Hoan phải nộp 4.330.000đ

Ngày 05/9/2018 anh Cao Viết Huy có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại bản án phúc thẩm số 28/2019/DSPT ngày 22/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận đơn kháng cáo của anh Huy, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, chuyển hồ sơ vụ án để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

2.1. Vi phạm về xác định tư cách tham gia tố tụng

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn, bị đơn xác định: Ông Cao Viết Cửu (mất ngày 23/7/2016) và bà Đỗ Thị Kho sinh được 8 người con là Cao Văn Ngọ (đã chết); Cao văn Hoan; Cao Văn Minh; Cao Thị Niên; Cao Văn Thìn (đã chết); Cao Văn Mùi và Cao văn Tám. Trong quá trình giải quyết vụ án sau khi ông Cửu chết, anh Huy có đơn đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ việc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng anh Cao Viết Huy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ là đúng, tuy nhiên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định một mình anh Huy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ là chưa đầy đủ vì những người thừa kế tài sản của ông Cửu không có văn bản thống nhất cử người đại diện quyền và nghĩa vụ tố tụng là vi phạm Điều 74 BLTTDS.

Trong vụ án này còn có 4 người con chung của ông Cửu và bà Hoa (người sống chung như vự chồng với ông Cửu) là các chị Cao Thị Chung, Cao Thị Hà, Cao Thị Thủy, Cao Thị Vui. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tuy nhiên trong hồ sơ không có  bản tự khai của họ về yêu cầu đối với phần tài sản của ông Cửu để lại, không được triệu tập tham gia hòa giải, công khai chứng cứ là vi phạm Điều 70, Điều 209 BLTTDS.

2.2. Vi phạm về thủ tục ủy quyền

Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND huyện Phú Lương là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn Toàn (Phó trưởng phòng) và bà Nguyễn Thị Huệ chuyên viên nhưng trong hồ sơ không có văn bản ủy quyền là vi phạm Điều 85 BLTTDS

Xét thấy Bản án sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm đã không phát hiện được vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là thiếu sót, quá trình kiểm sát bản án không nhận  diện được vi phạm là chưa nâng cao được vị trí, vai trò và trách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau phiên tòa dân sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

PHÒNG 9

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN PHỐI HỢP TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM

11 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 31/10/2019 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Tranh chấp quyền sử dụng đấtgiữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Triệu Sinh Đường, sinh năm 1973, Địa chỉ: Xóm Ba Nhất, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên;

Bị đơn: Ông Triệu Sinh Phúc, Địa chỉ: Xóm Ba Nhất, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Kiểm sát viên được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa: Lê Ngọc Kim Loan – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Kiểm sát viên Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án:

– Về nguồn gốc đất tranh chấp: Diện tích đất tranh chấp là 1.389m2 thuộc lô 41 tiểu khu 349 khoảnh 01 (nay là thửa đất số 533 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã Phú Thượng) có tổng diện tích 44.156m2 được gia đình ông Triệu Sinh Đường khoanh nuôi, bảo vệ từ năm 1993 và  được UBND huyện Võ Nhai giao đất rừng tại Quyết định số 1385. Gia đình ông Đường quản lý, sử dụng liên tục từ năm 1993, không có tranh chấp. Đến ngày 17/2/1998, ông Đường được UBND huyện Võ Nhai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L916951 đối với diện tích đất trên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo các quy định của pháp luật. Do vậy, việc ông Đường yêu cầu được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.389m2 là có căn cứ. Việc gia đình ông Phúc trình bày diện tích 1.389m2 đất tranh chấp là do bố mẹ ông Phúc cho vợ chồng ông từ năm 1985 nhưng không cung cấp được giấy tờ chứng minh diện tích đất này thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành các hoạt động tố tụng thu thập tài liệu, chứng cứ, xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng diện tích đất tranh chấp giữa 2 hộ, thu thập đầy đủ sơ đồ đo vẽ kèm theo phiếu đo đạc năm 1993, và tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã Phú Thượng để làm rõ nội dung lô số 41 tiểu khu 349 khoảnh 1 sang tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã Phú Thượng là thửa đất số 533, diện tích thửa đất này giữa hai tờ bản đồ có sự chênh lệch nhau do việc đo vẽ giữa các thời kỳ và sử dụng công nghệ đo vẽ khác nhau.

Do vậy, việc ông Đường yêu cầu được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp là 1.389m2 là có căn cứ, cần được chấp nhận

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết vụ án chưa đầy đủ, còn có các vi phạm như sau:

Thứ nhất, trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Đặng Thị Mùi (là vợ của bị đơn ông Triệu Sinh Phúc) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mà bà Mùi tham gia vụ án với tư cách là người đại diện cho bị đơn. Việc không đưa bà Mùi vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã vi phạm quy định tại Điều 68 BLTTDS.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vì cấp sơ thẩm không đưa bà Mùi tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Nội dung vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do vậy, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Thứ hai, trong vụ án này ông Đường còn khởi kiện yêu cầu ông Phúc phải bồi thườngcho ông 12 site gỗ mà ông Phúc chặt của ông trên diện tích đất đang tranh chấp. Tuy nhiên ông Đường không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày  22/5/2019, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Nụ có ý kiến không yêu cầu ông Phúc phải bồi thường về số gỗ này. Tuy nhiên trong bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 22/5/2019 của TAND huyện Võ Nhai, chưa nhận định, đánh giá về nội dung này là chưa đầy đủ.

Thứ ba, tại phần quyết định của bản án, buộc ông Triệu Sinh Phúc phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là 703.650đ (bao gồm giá trị diện tích đất tranh chấp 1.389m2 là 9.723.000đ và 300 cây keo là tài sản của ông Phúc trồng trên diện tích đất tranh chấp có giá trị là 4.350.000đ) là không đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bản án sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 22/5/2019TAND huyện Võ Nhai quyết định: Căn cứ  Điều 26, 35, 147, 157, 165, 235/BLTTDS; Điều 175/BLDS; Các Điều 4, khoản 2 Điều 5, Điều 97, 99, 100, 101, khoản 2 Điều 105, Điều 166, 202, 203  luật đất đai 2013; Điều 48 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Sinh Đường yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Triệu Sinh Phúc. Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích đất 1.389m2 có giá trị 9.723.000 của ông Triệu Sinh Đường nằm trong tổng diện tích 40.000m2 đất gia đình ông Đường được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L916951 mang tên ông Triệu Sinh Đường. Buộc ông Triệu Sinh Phúc phải trả cho ông Đường diện tích đất 1.389m2 nêu trên.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Hủy bản án số 01/2019/DS-ST ngày 22/5/2019 của TAND huyện Võ Nhai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

NGƯỜI VIẾT TIN BÀI : Trịnh Phương Thảo

                                              

 

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN PHỐI HỢP TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

23 Tháng Bảy, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 17/7/2019 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Tranh chấp quyền sử dụng đấtgiữa các đương sự: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Liên, ông Lê Đức Hạnh, Địa chỉ:  Tổ 14, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh TN; Bị đơn Ông Nguyễn Xuân Hoát, Địa chỉ: Tổ 14, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh TN.

Kiểm sát viên được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa: Nguyễn Tuyết Vân – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Kiểm sát viên Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án: Ông Lê Đức Hạnh ủy quyền cho bà Liên đại diện cho chồng toàn quyền khởi kiện và tham gia tố tụng trong vụ án. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà Nguyễn Thị Liên trình bày: Ngày 03/5/1999 vợ chồng bà có mua đất và nhà của ông Trần Như Lập tại phường Phú Xá, TPTN. Tổng diện tích đất là: 990m2 đất thổ cư, 212 m2 đất ao, đất ông Lập đã đã được cấp sổ bìa đỏ số B 933636. Trên đất có 2 gian nhà xây cấp 4, nhà bếp, bể chứa nước, nhà tắm, vườn cây ăn quả.

Sau khi nhận chuyển nhượng nhà đất của gia đình ông Lập, gia đình bà đã chuyển đến ở và sử dụng liên tục từ năm 1999 đến nay. Quá trình sử dụng đất do chưa sang tên đổi chủ, nên năm 2008 gia đình bà nhờ gia đình ông lập đổi giấy CNQSDĐ năm 1994, trong đó gia đình bà có hai thửa đất là: Thửa số 532 có diện tích 816 m2 (gồm: 300 m2 đất ở đô thị và 516 m2 đất trồng cây lâu năm), thửa số 531 có diện tích 256 m2 (trong đó gia đình bà có 130 m2, còn 126 m2 là của gia đình ông Hoát được ông Lập cho từ trước).

Năm 2014 gia đình bà làm thủ tục sang tên đổi chủ và được UBND thành phố Thái Nguyên cấp GCNQSDĐ số BU 937441 ngày 30/5/2014 với tổng diện tích là 946 m2, trong đó có 300 m2 đất ở đô thị, 516 m2 đất trồng cây lâu năm và 130 m2. Tuy nhiên hiện nay gia đình ông Hoát bà Thông đã lấn chiếm 150 m2 đất vườn và 49,4 m2 đất ao. Bà Liên khởi kiện yêu cầu gia đình ông Hoát phải trả lại bà 199,4 m2 đất theo đúng ranh giới, vị trí phần diện tích đất theo bản đồ địa chính.

Tại bản án sơ thẩm số 42/2018/DSST ngày 14/11/2018  Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định: Áp dụng Điều 26, 35, 147, 157, 165, 235, 271, 273/BLTTDS; Điều 175/BLDS; Các Điều 166, 203 luật đất đai 2013; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên, ông Lê Đức Hạnh về việc đòi 131m2 đất thuộc thửa 532 và 24,9m2 tại thửa 531 tờ bản đồ địa chính số 4 đối với gia đình ông Nguyễn Xuân Hoát.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Áp dụng Khoản 3 Điều 308, 310 BLTTDS; NQ số 326 ngày 30/12/2016, hủy bản án sơ thẩm số 42/2018/DSST ngày 14/11/2018 của TAND thành phố Thái Nguyên, chuyển Hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Người kháng cáo không phải chịu án phí DSPT.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

NGƯỜI VIẾT TIN BÀI – Trịnh Phương Thảo

 

PHÒNG 9 – VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN: TĂNG CƯỜNG XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

24 Tháng Sáu, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 31/5/2019 tại Hội trường xét xử của TAND tỉnh Thái Nguyên, Phòng 9 phối hợp với Tòa Dân sự – TAND tỉnh tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Tranh chấp hợp đồng thuê tài sảngiữa các đương sự: Nguyên đơn Bà Hoàng Thị Mùi- 1959, Ông Hoàng Văn Lưu- 1957, Địa chỉ:  Hồ Sen, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên – Bị đơn Anh Nguyễn Văn Tuyến- 1971, Chị Hoàng Thị Yến- 1974, Địa chỉ:  Bãi Á 1, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Kiểm sát viên được phân công Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa: Lê Thị Hương Giang – Kiểm sát viên trung cấp.

Thành phần tham dự phiên tòa: Toàn thể Kiểm sát viên, cán bộ Phòng 9.

Tóm tắt nội dung vụ án: Vợ chồng bà Hoàng Thị Mùi và ông chồng Hoàng Văn Lưu đã được cấp GCNQSDĐ số BP 795698 thửa đất số 138 tờ bản đồ 24, bản đồ địa chính thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên diện tích sử dụng 85,2 m2, mục đích sử dụng trồng lúa, địạ chỉ xã Bãi Á,TT Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên, trên đất có nhà gỗ lợp ngói. Ông bà đã lập hợp đồng với anh Nguyễn Văn Tuyến và chị Hoàng Thị Yến (là cháu họ của bà) thuê nhà. Khi thuê hai bên có lập hợp đồng thuê nhà từ 01/5/2014 – 30/10/2014 giá cho thuê 1.000.000đ/tháng; lần 2 lập ngày 01/11/2014 thời hạn thuê từ 01/11/2014- 30/4/2015 giá thuê 1.000.000đ/ tháng; lần 3 lập ngày 28/4/2015 thời hạn thuê từ ngày 01/5/2015 đến ngày 30/4/2016, giá 1.500.000đ/ tháng; lần thứ 4 lập ngày 04/5/2016 thời hạn thuê từ ngày 01/5/2016 đến ngày 30/4/2017 giá 1.500.000đ. Quá trình thuê nhà khoảng tháng 4 , 5/2016 anh Tuyến và chị Yến tháo dỡ ngôi nhà cũ đi và làm nhà cấp 4 mái lợp tôn, ông bà có ý kiến nhưng anh Tuyến chị Yến bảo nhà cũ nên tháo đi để làm nhà mới ở nên vợ chồng ông bà không có ý kiến gì nữa.  Hết hạn thuê nhà gia đình bà có nhu cầu sử dụng không cho thuê nữa, yêu cầu vợ chồng anh Tuyến trả nhà đất, vợ chồng anh Tuyến không trả. Nên đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu vợ chồng anh Tuyến trả lại nhà, đất cho bà (Anh Tuyến tháo dỡ phần mái tôn, cột sắt đã làm trên đất của ông bà).

Đã xem xét  thẩm định tại chỗ, định giá tài sản xã định quán bán hàng diện tích 79 m2 có giá trị 42.266.830đ ( do vợ chồng Tuyến xây dựng)

Tại bản án số 07 ngày 27/11/2018 đã  áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 147, 227, 229,271, 273 BLTTDS; Điều 492, 493,494, 495, 499,703 BLDS 2005, điểm b khoản 1 điều 24, Điều 27 PL số 10

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Mùi và ông Hoàng Văn Lưu. Buộc anh Nguyễn Văn Tuyến và chị Hoàng Thị Yến hoàn trả diện tích đất tại thửa 138, tờ bản đồ 24, bản đồ thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 795689 ngày 23/5/2014 của UBND huyện Định Hóa và tài sản trên đất đã thuê, theo hợp đồng thuê đất và tài sản trên đất đã ký ngày 04/5/2016 cho ông Lưu và bà Mùi. Giao cho ông Lưu và bà Mùi quản lý sử dụng ngôi nhà có diện tích 79 m2, tường gạch xỉ bên dưới, bên trên bưng tôn sóng, nền láng vữa xi măng do anh Tuyến và chị Yến sửa chữa trên thửa đất số 138 tờ bản đồ 24, bản đồ thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Buộc ông Lưu và bà Mùi trả cho anh Tuyến và chị Yến số tiền tương ứng giá trị ngôi nhà tại thời điểm giải quyết vụ án là 42.266.830 đ.

Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.

Trước phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công tham gia xét xử đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm giải quyết, dự thảo đề cương hỏi và các tình huống phát sinh, chuẩn bị bài phát biểu của Kiểm sát viên; tại phiên tòa đã thể hiện tác phong đĩnh đạc, trang nghiêm, kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa; phát biểu quan điểm rõ ràng, rành mạch, thể hiện được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên toà xét xử  phúc thẩm vụ án dân sự.

Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã tuyên: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Tuyến, sửa bản án sơ thẩm. Ghi nhận anh Tuyến, chị Yến tự tháo dỡ ngôi nhà có diện tích 79 m 2 tường gạch xỉ bên dưới, bên trên bưng tôn sóng, nền láng vữa xi măng do anh Tuyến và chị Yến sửa chữa trên thửa đất số 138 tờ bản đồ 24, bản đồ thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Không chấp nhận yêu cầu của anh Tuyến đòi tiền công tháo dỡ tài sản 15 triệu đồng.

Kết thúc phiên tòa, Phòng 9 đã họp rút kinh nghiệm, trên tinh thần thẳng thắn góp ý, xây dựng, đã ghi nhận những ưu điểm cũng như chỉ ra những tồn tại của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà.

Việc lựa chọn, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp ý, hoàn thiện cho Kiểm sát viên và rút ra kinh nghiệm chung về kỹ năng nghiệp vụ khi giải quyết các vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là một hình thức tự đào tạo tại chỗ có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa đối với Kiểm sát viên, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp cho các Kiểm sát viên trong đơn vị, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.

      Trịnh Phương Thảo

 

PHÒNG 9 VKSND TỈNH TỔ CHỨC PHIÊN TÒA XÉT XỬ RÚT KINH NGHIỆM

29 Tháng Năm, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 24/4/2019, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa xét xử rút kinh nghiệm vụ án dân “Tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe” giữa:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Trung Thắng, sinh năm 1954

HKTT:  Xóm Khe Cua 2, thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: anh Trần Văn Tuân, sinh năm 1992

HKTT:  Xóm Khe Cua 2, thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị Lưỡng, sinh năm 1957

HKTT:  Xóm Khe Cua 2, thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Vụ án có kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Thái Nguyên

Tham dự phiên tòa có Lãnh đạo phòng, các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Phòng 9 VKSND tỉnh.

Kiểm sát viên được phân công đã thực hiện kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo theo pháp luật trong tố tụng dân sự đối với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Tại phiên tòa Kiểm sát viên tích cực tham gia xét hỏi những vấn đề chưa được làm rõ, chỉ ra vi phạm quy định pháp luật dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, từ đó phát biểu quan điểm bảo vệ thành công kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Kết thúc phiên tòa Phòng 9 VKSND tỉnh đã tổ chức họp rút kinh nghiệm dưới sự chủ trì của đồng chí Ngô Văn Tân, Trưởng phòng 9. Tại cuộc họp các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên tham dự phiên tòa phát biểu, nhận xét thẳng thắn, cởi mở về những ưu điểm, hạn chế của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa từ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đến khi kết thúc phiên tòa, qua đó rút kinh nghiệm đối với đ/c Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cũng như toàn thể các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Phòng 9, nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm, công tác chuyên môn của Phòng.

                                     Tuyết Vân – Phòng 9 VKSND tỉnh Thái Nguyên

Page 1 of 3123