Tag Archives: phòng 7

BAN CHỈ ĐẠO THAM DỰ PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM HÌNH SỰ SƠ THẨM

2 Tháng Sáu, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhiệm vụ kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Từ 19/5/2020 đến ngày 22/5/2020 Ban chỉ đạo tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm ngành Kiểm sát Thái Nguyên đã tham dự 04 phiên tòa rút kinh nghiệm (Phòng 1- VKSND tỉnh: 01 phiên; Phòng 2- VKSND tỉnh: 01 phiên; VKSND TP Thái Nguyên 02 phiên)

465

Phiên tòa xét xử bị cáo Lưu Văn Nghĩa phạm tội “Giết người” của Phòng 2- VKS tỉnh.

Qua tham dự đột xuất các phiên tòa rút kinh nghiệm của các đơn vị thấy: Các KSV đã chuẩn bị tương đối kỹ, đầy đủ các tình huống để tranh luận; các chứng cứ luận tội, gỡ tội; đề cương xét hỏi; luận tội….

Tại phiên tòa , các Kiểm sát viên đã phát huy tốt vai trò thực hành quyền công tố và xét xử, đưa ra những luận cứ thuyết phục, bảo vệ thành công quan điểm của Viện kiểm sát; đề nghị mức hình phạt có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Về các đồng chí lãnh đạo đơn vị đã quan tâm đến phiên tòa rút kinh nghiệm của đơn vị mình, có kế hoạch cụ thể và cử các KSV, Chuyên viên tham dự đầy đủ. Sau phiên tòa rút kinh nghiệm các đơn vị đã họp đánh giá, kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Qua đó giúp cho các KSV, Chuyên viên tự học, tự rèn nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ công tác./.

.                                                                                                  Phòng 7 – VKS tỉnh Thái Nguyên

TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU CHO THẾ HỆ TRẺ NGÀNH KIỂM SÁT

21 Tháng Năm, 2020 Cuộc thi chân dung cán bộ kiểm sát & Bản lĩnh Kiểm sát viên

 

Đã hơn 1 tháng kể từ ngày đồng chí Nguyễn Bá Sơn nhận Quyết định về hưu. Thế nhưng tất cả các cán bộ tại VKSND tỉnh Thái Nguyên Thái Nguyên vẫn luôn nhắc về hình ảnh người cán bộ tài năng, đầy bản lĩnh và sắc bén.

Sau khi tốt nghiệp cấp 3, với lòng yêu nước và mong muốn được bảo vệ đất nước, tháng 8 năm 1978 đồng chí đã nhập ngũ vào bộ đội. Đến tháng 2 năm 1979 tham gia chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược tại mặt trận phía Bắc tỉnh Cao Bằng. Không phụ lòng mong muốn được đứng vào đội ngũ của Đảng, tháng 7 năm 1980 đồng chí Sơn đã được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam; Đến tháng 4 năm 1982, đồng chí được xuất ngũ, chuyển ngành về công tác tại VKSND huyện Đồng Hỷ tỉnh Bắc Thái (Nay là tỉnh Thái Nguyên).

Ngay từ những ngày đầu được vào ngành, đồng chí luôn nỗ lực học tập, trau dồi kiến thức với hi vọng cống hiến công sức cho nhà nước nói chung và ngành Kiểm sát nói riêng. Đến năm 1988 đồng chí được bổ nhiệm KSV sơ cấp và điều chuyển về công tác tại Phòng Kiểm sát chung, VKSND tỉnh Bắc Thái, năm 1992 đồng chí được bổ nhiệm KSV trung cấp. Trong thời gian công tác tại Phòng Kiểm sát chung, đồng chí đã cùng tập thể cán bộ, kiểm sát viên của phòng tham gia nắm bắt tình hình việc tuân thủ pháp luật của cơ quan đơn vị, tổ chức trên địa bàn. Khi phát hiện có vi phạm đã đề xuất lãnh đạo đơn vị mở điểm kiểm sát trực tiếp. Bản thân đồng chí đã tham gia nhiều cuộc kiểm sát trực tiếp, trong đó có một số đơn vị như: Công ty kim khí Bắc Thái có vi phạm về hoạt động trốn thuế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị; Công ty xổ số Bắc Thái có vi phạm trong hoạt động thu chi tài chính của đơn vị và hoạt động chi trả thưởng cho những người mua xổ số trúng thưởng; Ban tiếp nhận viện trợ huyện Phú Lương có vi phạm trong hoạt động thu chi tài chính nguồn vốn tài trợ do các tổ chức phi Chính phủ tài trợ cho chương trình “Chăm sóc sức khỏe nơi không có bệnh viện”; Công ty xăng dầu Bắc Thái vi phạm để ngoài sổ sách kế toán, hoạt động kinh doanh xăng dầu do đơn vị tự mua tự bán, không nằm trong chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước; Công ty bảo hiểm Bắc Thái (Nay là Bảo Việt Thái Nguyên) vi phạm trong hoạt động thu chi tài chính của đơn vị và vi phạm trong hoạt động chi trả tiền bồi thường cho các cá nhân, đơn vị tham gia bảo hiểm tự  nguyện…..Qua các điểm kiểm sát trực tiếp, bằng kiến thức đã được học tập và trau dồi, đồng chí đã tham mưu đề xuất lãnh đạo, trực tiếp soạn thảo kết luận, kiến nghị khắc phục vi phạm và thu hồi tiền bị thất thoát cho ngân sách nhà nước.

Hình ảnh đồng chí Nguyễn Bá Sơn tại phiên tòa

Năm 1997, sau khi có Quyết định chia cắt tỉnh, đồng chí được chuyển công tác về Phòng trị an xã hội ( Nay là Phòng 1, Phòng 2), VKSND tỉnh Thái Nguyên, trong quá trình công tác đồng chí đã trực tiếp THQCT&KSXXST nhiều vụ án về an ninh, ma túy, trật tự, trị an xã hội. Đến năm 2011 thì chuyển công tác đến Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự ( Phòng 3, nay là Phòng 7), VKSND tỉnh Thái Nguyên. Bằng những kết quả đạt được trong quá trình công tác, năm 2013 đồng chí đã được bổ nhiệm giữ chức vụ là Phó trưởng phòng và công tác đến khi nghỉ hưu. Trong quá trình công tác tại Phòng 7, đồng chí trực tiếp THQCT&KSXXPT nhiều vụ án phức tạp, bị cáo kêu oan, không nhận tội, nhiều vụ án có luật sư tham gia. Với sự nhạy bén, kinh nghiệm dày dặn, tại các phiên tòa tưởng chừng sẽ khó khăn nhưng đồng chí đã tranh luận với Luật sư và bảo vệ được quan điểm của mình, các bị cáo phải cúi đầu nhận tội.

Trong 38 năm công tác trong ngành, xét xử nhiều vụ án, với nhiều loại tội khác nhau; Vụ án khiến đồng chí Sơn trăn trở, ghi nhớ nhất khi kể với chúng tôi là vụ án Nguyễn Tiến Tùng, phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 điều 93/ BLHS 1999; Theo như đồng chí Sơn kể lại, bị cáo phạm tội khi đang ở tuổi vị thành niên ( khi phạm tội bị cáo mới được 16 tuổi 01 tháng, 21 ngày), nông nổi, mặc dù bị hại cũng có lỗi trong vụ án. Tuy nhiên, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhen, một va chạm nhỏ trong quan hệ của lứa tuổi học trò, bị cáo đã tước đi sinh mạng của bị hại. Khi nghiên cứu hồ sơ, đồng chí có chút động lòng khi thấy bị cáo phạm tội trong khi tuổi đời còn quá trẻ, chưa thực sự hiểu hết pháp luật. Nhưng cứ nghĩ đến sự mất mát, tổn thất vô cùng lớn lao về tinh thần không gì có thể bù đắp cho được người thân của gia đình bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác  mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Do vậy, đồng chí Sơn khi luận tội ngoài đề nghị cho bị cáo hưởng những tình tiết giảm nhẹ cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử khi ra quyết định hình phạt cần phải có một bản án thật nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định. Và đã đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Tùng phạm tội “ Giết người”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n, khoản 1 điều 93; điểm b, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 47; khoản 5 điều 69; khoản 1 điều 74 xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Tùng từ 07 đến 08 năm tù. Đề nghị của đồng chí Sơn được Hội đồng xét xử chấp nhận, tuyên bố xử  phạt bị cáo Nguyễn Tiến Tùng 07 năm tù về tội “ Giết người”. Hình phạt đối với bị cáo Tùng không những nhằm giáo dục cải tạo đối với bản thân bị cáo mà còn có ý nghĩa răn đe giáo dục, phòng ngừa chung cho tất cả mọi người về ý thức chấp hành pháp luật; Đồng thời đây cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai có ý định mong muốn giải quyết mâu thuẫn trong cuộc sống bằng con đường bạo lực nói chung và bạo lực học đường nói riêng.

Trong khi thực hiện công tác về chuyên môn nghiệp vụ, đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chịu khó học hỏi kinh nghiệm mọi người nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân.

Không chỉ nỗ lực hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, trong mối quan hệ với anh chị em đồng nghiệp, đồng chí luôn hòa đồng, gần gũi, sẵn sàng trao đổi các kinh nghiệm hay, đặc biệt là trong công tác hướng dẫn đối với cán bộ trẻ, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, vui vẻ, hòa nhã với mọi người, kính trên nhường dưới, luôn tu dưỡng rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức của người cán bộ Kiểm sát viên.

Đối với tôi, nói về đồng chí Sơn ngoài hiện lên hình ảnh của người “đồng chí” công tác cùng ngành miệt mài nghiên cứu bên tập hồ sơ, trăn trở trước những vụ án phức tạp, mà còn hiện lên hình ảnh của người “ thầy”. Tôi nhớ như in cái ngày mới chập chững vào ngành, mọi thứ đối với tôi như là trang giấy trắng. Khi được giao nhiệm vụ, tôi không biết mình nên bắt đầu từ đâu? Làm như thế nào? Chính đồng chí đã hướng dẫn tôi sắp xếp công việc, cách giải quyết công việc một cách hiệu quả nhất, nên bây giờ mọi công việc của tôi cũng trở nên dễ dàng hơn.

Người đồng chí ấy tuy đã về hưu nhưng vẫn tiếp tục cống hiến cho nhà nước bằng việc sẵn sàng đưa ra lời tư vấn, hướng dẫn cho các cán bộ, kiểm sát viên trẻ mỗi khi gặp khó khăn và trở thành tấm gương về cả công việc lẫn đời sống.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử rút kinh nghiệm án hình sự

9 Tháng Ba, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 27/02/2020 và ngày 02/03/2020, Phòng 7- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Tòa gia đình và người chưa thành niên- Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm với vụ án Dương Đình P, Dương Đình Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.

Theo cáo trạng truy tố của cấp sơ thẩm: Khoảng 16 giờ ngày 23/02/2013 tại khu vực ngã ba đường tỉnh lộ 269B thuộc địa phận tổ Đình Xước, thị trấn Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xuất phát từ mâu thuẫn trước đó Dương Đình P cùng con trai là Dương Đình Q đã dùng chân, tay đánh gây thương tích cho anh Vi Đình L, khiến anh L bị đập đầu xuống nền đường gây chấn thương sọ não tụ máu nội sọ, sau khi đi về nhà đã bị tử vong và được phát hiện vào hồi 13 giờ ngày 25 tháng 02 năm 2013 tại nhà riêng ở xã Tràng Bắn, xã Đồng Vương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Quá trình giải quyết vụ án chị Vi Thị Mai là con gái của anh L là đại diện cho người bị hại yêu cầu các bị can P, Q phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2019/HSST ngày 24/06/2019, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử: Tuyên bố các bị cáo Dương Đình P, Dương Đình Q, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 3, Điều 104 BLHS năm 1999, điểm v khoản 1 Điều 51; điểm d, o khoản 1 Điều 52, Điều 38/BLHS xử phạt bị cáo Dương Đình P 08 năm tù.

Áp dụng: Khoản 3, Điều 104 BLHS năm 1999, Điều 38, Điều 91, Điều 101/BLHS xử phạt bị cáo Dương Đình Q 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS, Điều 357, 468, 584, 585, 586, 587, 591/BLDS buộc hai bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 104.000.000đ.

Vụ án trên là vụ án phức tạp, bị cáo kháng cáo kêu oan, đây là vụ án cố ý gây  thương tích thời điểm xảy ra đã lâu, vụ án có nhiều tình tiết phức tạp và được xét xử nhiều lần, có Luật sư tham gia bảo vệ cho bị cáo nên phòng 7 đã chọn làm phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử cho KSV và chọn để rút kinh nghiệm chung đối với hoạt động duy trì công tố của KSV tại phiên tòa hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm KSV đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử đồng thời đã chủ động tích cực tham gia thẩm vấn và tranh tụng tại phiên tòa, xử lý tốt các tình huống phát sinh tại phiên toà, phối hợp cùng Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa và tranh luận với Luật sư của bị cáo, KSV đã bảo vệ tốt được quan điểm đề nghị của mình và được Hội đồng xét xử chấp nhận các quan điểm của VKS.

Kết thúc phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử nhất trí với quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Dương Đình P, Dương Đình Q. Áp dụng: Điểm a, khoản 1, Điều 355, Điều 356 – BLTTHS năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm xử phạt bị cáo Dương Đình P 08 năm tù, Dương Đình Q 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Thông qua việc phối hợp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm đã tạo điều kiện cho cán bộ, KSV làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử có điều kiện trao đổi, bổ sung, rút kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

                                                       Đinh Thị Thu Huyền – Phòng 7, Viện kiểm sát tỉnh

Thông báo rút kinh nghiệm án hình sự sơ thẩm bị hủy

24 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Qua công tác THQCT và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự 6 tháng cuối năm 2019, Phòng 7 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thấy có vụ án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy để điều tra, xét xử lại cần nêu để rút kinh nghiệm chung.

Vụ án: Ngô Mạnh H, phạm tội “ Đánh bạc” quy định tại Điều 321/BLHS. Bản án sơ thẩm số 87 ngày 25.3.2019 của TAND Thành phố Thái Nguyên áp dụng K1 Điều 321 xử phạt bị cáp Hà 06 tháng tù giam.

Theo Cáo trạng và bản án sơ thẩm: Hồi 16 giờ, ngày 27/11/2018 tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện 04 đối tượng gồm: Lê Văn H, Đinh Xuân H, Nguyễn Tuấn U và một đối tượng đã chạy thoát đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” sát phạt nhau bằng tiền tại khu vực lán chờ trước cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức Châu thuộc tổ 1, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: 7.435.000 đồng và 52 quân bài túlơkhơ.

Đến 09 giờ 25 phút, ngày 28/11/2018 đối tượng chạy thoát được xác định là Ngô Mạnh Hà đã đến Công an thành phố Thái Nguyên đầu thú và khai nhận vào ngày 27/11/2018 H có tham gia đánh bạc cùng với Lê Văn H, Đinh Xuân H, Nguyễn Tuấn U.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 27/11/2018, Lê Văn H, Đinh Xuân H, Nguyễn Tuấn U cùng một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ đến lán chờ trước cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức Châu thuộc tổ 1, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên và rủ nhau đánh “Sâm” sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc được khoảng 20 phút thì người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ ra về nên Ngô Mạnh H vào ngồi đánh bạc thay vị trí người đàn ông trên sau đó các đối tượng tiếp tục đánh bạc đến 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Nhân thân của Ngô Mạnh H:

Có 01 Tiền sự: Ngày 01/8/2018 bị Ủy ban nhân dân phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “xâm phạm sức khỏe của người khác”.

Bị cáo kháng cáo giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.

Bản án phúc thẩm số 105 ngày 05/8/2019 của TAND Tỉnh Thái Nguyên áp dụng Điều 358/BLTTHS hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Phòng 7- VKSND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành 01 Thông báo rút kinh nghiệm số 01 ngày 02/12/2019 đối với vụ án.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:  

Về việc xác định nhân thân của bị cáo: Ngày 24/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành xác minh việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Mạnh H tại Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, kết quả xác định: Ngày 22/5/2018, Ngô Mạnh H có hành vi xâm hại sức khỏe đối với chị Nguyễn Thị T là chị dâu của H cùng trú tại tổ 49, phường Hương Sơn, thành phố TN, sau đó trên cơ sở đề xuất của Công an phường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hương Sơn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67, ngày 01/8/2018 đối với Hà bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 2.500.000 đồng. Sau khi có quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cán bộ của Công an phường Hương Sơn đã trực tiếp xuống gia đình để giao quyết định cho H nhưng do sơ xuất cán bộ được giao nhiệm vụ giải quyết vụ việc đã không lập Biên bản giao nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H. Do đó hồ sơ vụ án không có tài liệu thể hiện Ngô Mạnh H đã được nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67, ngày 01/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên nên chưa đủ căn cứ xác định Ngô Mạnh H có tiền sự.

Mặt khác tại lý lịch bị can của Ngô Mạnh H do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thái Nguyên lập ngày 03/12/2018 (có xác nhận của lãnh đạo Công an phường Hương Sơn) ghi rõ H chưa có tiền án, tiền sự. Theo đó tại bản kết luận điều tra vụ án số 74, ngày 11/01/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an TPTN cũng xác định H chưa có tiền án, tiền sự và nhân thân. Tuy nhiên cáo trạng và bản án sơ thẩm lại xác định H có 01 tiền sự về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác là mâu thuẫn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và chưa đảm bảo tính có căn cứ trong việc xác định nhân thân của bị cáo. Nguyên nhân là do Kiểm sát viên và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án chỉ căn cứ vào quyết định xử phạt vi phạm hành chính có trong hồ sơ vụ án để xác định bị cáo có tiền sự mà không căn cứ vào lý lịch bị can và các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh bị cáo đã được giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính một cách hợp lệ, đúng trình tự, thủ tục quy định tại điều 70 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013 nên đã không phát hiện được mâu thuẫn, thiếu sót nêu trên dẫn đến bị cấp phúc thẩm hủy án.

Về việc tố giác tội phạm: Bị cáo tố giác đối tượng có tên là Trần Văn B trú tại tổ 10, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên có hành vi tham gia đánh bạc với các bị cáo H, H, N trước bị cáo là có cơ sở bởi vì tại bản cáo trạng số 36, ngày 21/01/2019 của VKSND TPTN có đoạn nêu “còn có một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tham gia đánh bạc ngày 27/11/2018, do không xác định được lai lịch địa chỉ của người đàn ông trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để xử lý” nay bị cáo nêu rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng Trần Văn B nên có căn cứ để điều tra làm rõ có việc Trần Văn B tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo khác hay không, nếu có thì cần phải xử lý B theo quy định của pháp luật tránh bỏ lọt tội phạm.

Thông qua vụ án này, Phòng 7 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo để Viện kiểm sát các huyện, thị, thành phố nghiên cứu rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự và tránh xảy ra những thiếu sót tương tự ./.

                                                                                        Phòng 7 – VKSND tỉnh

Phòng 7 VKSND tỉnh Thái Nguyên: Xét xử rút kinh nghiệm và bảo vệ kháng nghị của VKS cấp huyện

19 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 12/02/2020, Phòng 7- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Tòa hình sự- Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm và bảo vệ kháng nghị đối với vụ án Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

Theo cáo trạng truy tố của cấp sơ thẩm: Ngày 26/12/2015 tại tổ dân phố 13, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, Nguyễn Thị Bích N biết rõ quyền sử dụng đất số 1083 tờ bản đồ 68 tại địa chỉ thị trấn Bắc Sơn (nay là phường Bắc Sơn, thị xã Phổ Yên) của mình đang được thế chấp vay tiền tại 02 ngân hàng. Mặc dù không đủ điều kiện làm chuyển nhượng nhưng vì muốn có tiền nên thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng cho anh Trần Văn P với giá 370.000.000đ, chiếm đoạt của anh P 297.000.000đ (gồm 232.465.050 đ anh P nộp thay cho N vào Ngân hàng để trả nợ vay và 65.000.000đ N nhận từ anh P bằng tiền mặt).

Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HSST ngày 30/09/2019, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng:  Điểm a, khoản 3, Điều 139, Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích N 07 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS buộc bị cáo phải trả lại cho anh Trần Văn P 232.465.050đ bị cáo đã chiếm đoạt.

Do bản án sơ thẩm xác định chưa đúng về phần bồi thường dân sự nên VKSND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên sau khi trao đổi xin ý kiến VKSND tỉnh Thái Nguyên đã ra quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HSST ngày 30/09/2019 theo hướng kháng nghị một phần bản án, sửa bản án sơ thẩm xác định thiệt hại thực tế của hành vi phạm tội của bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tổng số tiền bị hại thanh toán tại ngân hàng Agribank chi nhánh Phúc Thuận và số tiền 65.000.000đ bị hại chuyển cho bị cáo ngay sau khi thực hiện các thủ tục đối với ngân hàng.

Vụ án trên là vụ án phức tạp, bị cáo kháng cáo kêu oan, bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng bồi thường và xem xét vấn đề đồng phạm, đồng thời VKS kháng nghị đề nghị sửa phần bồi thường trong vụ án nên KSV đã đề xuất Lãnh đạo chọn làm phiên tòa rút kinh nghiệm và giữ vai trò bảo vệ kháng nghị của VKSND thành phố Sông Công.

Tại phiên tòa phúc thẩm KSV đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử đồng thời đã chủ động tích cực tham gia thẩm vấn và tranh tụng tại phiên tòa, chủ động, xử lý tốt các tình huống phát sinh tại phiên toà, phối hợp cùng Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa và tranh luận với Luật sư của bị cáo và bị hại, KSV đã bảo vệ tốt được quan điểm đề nghị của mình và được Hội đồng xét xử chấp nhận các quan điểm cũng như chấp nhận kháng nghị của VKS.

Kết thúc phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử nhất trí với quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Chấp nhận kháng nghị của VKS. Áp dụng: Điểm b, khoản 1, Điều 355, điểm c, khoản 1 Điều 357 – BLTTHS năm 2015. Sửa bản án sơ thẩm về việc tăng bồi thường cho người bị hại. Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại về việc tăng bồi thường dân sự. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

                                                        Đinh Thị Thu Huyền – Phòng 7,Viện kiểm sát tỉnh

Kiến nghị khắc phục vi phạm trong công tác xét xử hình sự của viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Nguyên

11 Tháng Mười Một, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật, tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng nhưviệc ban hành Bản án đảm bảo về hình thức, nội dung theo đúng quy định của pháp luật trong tố tụng hình sự và quy định của ngành Tòa án.

Trong năm 2019, qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự, VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên nhận thấy, bên cạnh việc tuân thủ pháp luật, TAND cấp huyện vẫn còn một số vi phạm, thiếu sót điển hình như:

– Việc giao, gửi bản án chưa đúng quy định tại Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự (xảy ra ở 9 TAND cấp huyện)

– Không gửi hoặc chậm gửi các quyết định như: Quyết định phân công Thẩm phán (TAND huyện Định Hóa, TAND thành phố Sông Công), Quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn (TAND huyện Định Hóa); Quyết định hoãn phiên tòa (TAND thành phố Thái Nguyên); Quyết định đưa vụ án ra xét xử (TAND thành phố Sông Công).

– Viện dẫn điều luật sai trong Bản án, Bản án nêu sai thời gian phạm tội (TAND thành phố Sông Công).

– Quyết định đưa vụ án ra xét xử không ghi rõ, đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự (VKSND huyện Phú Lương)

40

(Ảnh minh họa)

Do đó trong năm 2019 VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên đã ban hành 11 kiến nghị đối với Chánh án Tòa án nhân dân 9 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Thái Nguyên để chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục các vi phạm nêu trên./.

ĐTH

Phòng 7 – Viện KSND tỉnh Thái Nguyên

XÓA ÁN TÍCH, THỜI GIAN ĐỂ XÓA ÁN TÍCH VÀ THỦ TỤC ĐỂ ĐƯỢC XÓA ÁN TÍCH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ, BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

11 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích, nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. Cụ thể:

 Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015 đã điều chỉnh định nghĩa về người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và bỏ đi quy định về việc phải “được Tòa án cấp giấy chứng nhận” như trong BLHS trước đây. Với quy định mới này, BLHS năm 2015 đã giải quyết được những khó khăn đối với người chấp hành xong bản án; rút bớt các thủ tục, đồng thời chuyển trách nhiệm cập nhật thông tin về án tích của người bị kết án sang cho các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (khoản 4 Điều 70).

Khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được ,miễn hình phạt không bị coi là có án tích”. Đây là quy định mới so với Bộ luật hình sự năm 1999, khi người bị kết án do lỗi vô ý về tội ít nghiêm trọng, lỗi vô ý về tội nghiêm trọng có thể chịu hình phạt nhưng không bị coi là có án tích hoặc người bị kết án về mọi loại tội nếu được miễn hình phạt thì cũng được coi là không có án tích. Do đó những người này nếu phạm tội mới thì không được lấy bản án trước để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên người bị kết án trong trường hợp này vẫn phải tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm tội mới mà họ chưa chấp hành bản án trước đó.

 Khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: Được coi là không có án tích, nếu người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi đối tượng xác định mang án tích so với  quy định tạiBộ luật hình sự năm 1999.

Về thời gian xóa án tíchđã được rút ngắn hơn so với quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999, cụ thể:

– Khoản 2 Điều 70  Bộ luật hình sự quy định giữ nguyên thời hạn 01 năm để được xóa án tích đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo. Nhưng rút ngắn thời hạn để được xóa án tích còn 02 năm đối với trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm và 05 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Đồng thời, quy định rõ hơn đối với trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Khoản 2 Điều 107 Bộ luật hình sự quy định: Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xoá án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn: 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm

Về thời hạn để xóaán tích: Theo quy định tại điều 73 Bộ luật hình sự thì: Thời hạn để xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới và có lợi người cho người bị kết án trong cách tính thời hạn xóa án tích trong Bộ luật Hình sự năm 2015, vì theo quy định trước đây thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án.

Ngoài ra, trong thời hạn xóa án tích thì người bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Tội phạm mới này có thể là bất kỳ loại tội phạm nào cũng như có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu như người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

Quy đinh về xóa án tích theo quyếtđịnh của Tòa án cũngđã được sửa đổi. Cụ thể theo quy định tại Điều 71 Bộ luật hình sự, thì xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện:

+ Tòa án quyết định xóa án tích căn cứ vào tính chất tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án.

+ Thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án được xác định là từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn: 01 năm nếu bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 05 năm nếu bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 07 năm nếu bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn trên thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Quy định về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt theo Điều 72 Bộ luật hình sự quy định: Người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật hình sự 2015.

Về thủ tục để được xóa án tích được quy định tại điều 369 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cụ thể:

Với trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn tiếp nhận và cấp phiếu lý lịch tư pháp không có án tích là 05 ngày.

Với các trường hợp còn lại do Tòa án quyết định. Theo đó, người bị kết án phải gửi đơn yêu cầu xóa án tích (có nhận xét của chính quyền địa phương hoặc nới làm việc, học tập). Trong thời hạn 13 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án cấp sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích.

Theo quy định tại khoản 3 điều 71 Bộ luật hình sự thì: Trong trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 1 năm  kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 2 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích./.

Dương Thị Thu Hiền-Phòng 7

PHÒNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ PHÚC THẨM ÁN HÌNH SỰ THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

17 Tháng Mười, 2019 GIẢI BÁO CHÍ TOÀN QUỐC BÚA LIỀM VÀNG

Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự (Phòng 7) là một trong những Phòng nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên (trước đây là Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm án hình sự). Hiện tại, Phòng 7 có 06 biên chế, trong đó có 05 Kiểm sát viên trung cấp và 01 Chuyên viên.

Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo Hiến pháp và Pháp luật. Theo đó Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại các phiên toà phúc thẩm hình sự của Toà án nhân dân tỉnh; Tham mưu đề xuất với Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thực hiện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định hình sự của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Kiểm tra, hướng dẫn chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; Phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật, phát hiện thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước, kiến nghị khắc phục vi phạm, tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân; Kiến nghị với Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong hoạt động xét xử; phối hợp với các phòng nghiệp vụ khác thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên hướng nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; giúp Lãnh đạo Viện quản lý việc thực hiện Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự trong ngành Kiểm sát Thái Nguyên.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát cùng cấp và VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân. Đây là quyền năng pháp lý quan trọng chỉ giao cho ngành Kiểm sát,thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kháng nghị, thời gian qua, Phòng 7 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ, quyền hạn của của Viện kiểm sát nhân dân, đặc biệt là việc thực hiện hiện quyền kháng nghị theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, năm 2015; Chỉ thịsố 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008; Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị án hình sự. Thường xuyên quan tâm, coi trọng công tác kháng nghị, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự, bám sát Chỉ tiêu nhiệm vụ trong Nghị quyết của Quốc hội và các chỉ tiêu của Ngành; đảm bảo số lượng và chất lượng công tác kháng nghị hình sự.

Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này, trong những năm qua, Phòng 7-VKS tỉnh đã tích cực tham mưu giúp Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh nắm, theo dõi, quản lý việc các đơn vị cấp huyện gửi bản án sơ thẩm về Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Bên cạnh đó phân công Kiểm sát viên địa bàn tích cực nghiên cứu bản án sơ thẩm, phát hiện vi phạm để tham mưu ban hành kháng nghị phúc thẩmhoặc nếu không còn đủ thời gian để kháng nghị phúc thẩm những bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thì kịp thờibáo cáo VKS cấp trên kháng nghị giám đốcthẩm theo thẩm quyền; kiên quyết kháng nghị nếu phát hiện có vi phạm và bảo vệ các kháng nghị có căn cứ, đúng pháp luật. Chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm đã từng bước được nâng lên, đảm bảo về hình thức, nội dung có căn cứ pháp lý; số kháng nghị Tòa án chấp nhận được nâng lên rõ rệt.

Trong năm năm gần đây Phòng 7 đã nghiên cứu kiểm sát hơn 5000 bản án của Tòa án nhân dân cấp huyện, đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành 16 kháng nghị phúc thẩm, kết quả xét xử phúc thẩm Tòa án chấp nhận 15 kháng nghị (vượt chỉ tiêu của Ngành đề ra), không chấp nhận 01 kháng nghị. Cụ thể: năm 2015: 3 kháng nghị đối với 3 bị cáo, Tòa án xét xử đều chấp nhận kháng nghị. Năm 2016: 06 kháng nghị đối với 11 bị cáo, Tòa án xét xử chấp nhận 05 kháng nghị/07 bị cáo, không chấp nhận 01 kháng nghị/04 bị cáo. Năm 2017: 04 kháng nghị đối với 08 bị cáo, Tòa án xét xử đều chấp nhận kháng nghị. Năm 2018: 01 kháng nghị đối với 01 bị cáo, kết quả xét xử Tòa án chấp nhận kháng nghị. Trong 10 tháng đầu năm 2019: 02 kháng nghị đối với 03 bị cáo, kết quả xét xử Tòa án chấp nhận kháng nghị. Đãthực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm: 21 vụ/33 bị cáo có kháng nghị của VKS cấp huyện.

Ngoài ra, năm 2015 Phòng 7 đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành 01 kháng nghị giám đốc thẩm, kết quả xét xử Tòa án chấp nhận kháng nghị. Năm 2017, tham mưu cho Lãnh đạo Viện báo cáo đề nghị VKS cấp cao 1 kháng nghị giám đốc thẩm: 01 vụ/ 01 bị cáo, VKS cấp cao chấp nhận đề nghị và đã kháng nghị giám đốc thẩm. Năm 2018 báo cáo đề nghị kháng nghị tái thẩm 01 vụ/01 bị cáo, được VKS cấp cao 1 chấp nhận.

Để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự của VKS 2 cấp của ngành Kiểm sát Thái Nguyên, năm 2017, Phòng 7 đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện tổ chức thành công hội nghị chuyên đề: “Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự“. Ngoài ra Phòng 7 còn chú trọng việc rút kinh nghiệm về những thiếu sót, hạn chế đối với từng trường hợp mà VKS tỉnh rút kháng nghị của VKS cấp dưới hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát không được Tòa án chấp nhận. Đối với các kháng nghị có chất lượng tốt đã tổng hợp thông báo cho Viện kiểm sát cấp huyện cùng tham khảo.

Kháng nghị của Viện kiểm sát đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách thống nhất, chính xác và nghiêm minh. Chính sự quan tâm, chỉ đạo đúng mức của Lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh Thái Nguyên nói chung và lãnh đạo phòng 7 nói riêng đối với công tác kháng nghị cùng quá trình hoạt động nghiệp vụ nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, phù hợp các văn bản pháp luật trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ, cán bộ Kiểm sát viên trong đơn vị đã góp phần đưa lại kết quả đáng ghi nhận nói trên, góp phần hoàn thành tốt kế hoạch công tác, các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Quốc hội giao chongành Kiểm sát nhân dân./.

Dương Thị Thu Hiền –Phòng 7

Phòng 7 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm

6 Tháng Chín, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 26/8/2019, Phòng 7 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Tòa hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa xét xử phúc thẩm rút kinh nghiệm vụ án hình sự Nguyễn Sỹ G và Triệu Tài A, bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Cướp tài sản”, quy định tại Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Nội dung vụ án:Do nghi ngờ anh Đồng Văn G nợ 28.000.000 đồng của chị Dương Mỹ L (là số tiền chị L nợ Triệu Tài A),khoảng tháng 5 năm 2018,tại phòng trọ của anh Đồng Văn G, Nguyễn Sỹ G đã dùng 01 chiếc điều cày bằng tre đánh anh G;Triệu Tài A cũng dùng một đoạn dây cáp (bằng cao su, màu đen, dài 56cm, đường kính 2cm) và dùng chân, tay đánh anh G; Triệu Tài A còn lấy trong túi đeo bên người ra một con dao(loại dao bấm màu đỏ – đen, tổng chiều dài 21 cm) đe dọa anh G, đồng thời lấy của anh G 01 Chứng minh nhân dân, 01 Giấy phép lái xe hạng B2, 01 hồ sơ bên trong có học bạ và bản sao Giấy khai sinh, Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, tất cả đều mang tên Đồng Văn G, mục đích để ép anh G viết giấy vay tiền. Sau khi đánh và đe dọa anh G, các bị cáo đưa anh G về cửa hàng cho thuê ô tô, xe máy “Dương Giới” thuộc tổ 6, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tiếp tục đe dọa,Nguyễn Sỹ Gđã dùng tay, chân đánh anh G; Triệu Tài A cầm khay làm nước đá bằng kim loại (hình chữ nhật, kích thước 18cm x 28cm) đập một phát vào đầu anh G. Sau đó,Triệu Tài A dùng 03 vỏ bút bi kẹp vào giữa các ngón tay bàn tay trái của anh G vàdùng tay phải bóp mạnh bàn tay trái của anh G làm anh G bị đau, rồi ép anh G phải viết một giấy thuê xe, một giấy bán xe, yêu cầu trong thời hạn 07 ngày anh G phải thanh toán số tiền 28.000.000đồng cho các bị cáo. Do bị đánh đập, anh G buộc phải viết giấy vay nợ, khi viết xong, các bị cáo cho anh Gra về. Ngay sau khi bị đánh đập ép viết giấy vay nợ, anh G đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an. Do vết thương không đáng kể, anh G không đề nghị giám định thương tích.Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo đã bồi thường cho anh G số tiền 20.000.000đồng.

Tại Bản án hình sự số 99/2019/HSST, ngày 29/3/2019 của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”; áp dụng Khoản 1, Điều 168; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo, xử phạt:Nguyễn Sỹ G 42 tháng tù; Triệu Tài A 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết với lý do các bị cáo đã bồithường cho bị hại xong.

Sau xét xử sơ thẩm, ngày 26/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết địnhkháng nghị số 01, kháng nghị toàn bộ Bản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự, tăng hình phạt đối với 02 bị cáo; không áp dụngĐiều 65 đối với bị cáo Triệu Tài A, đề nghị xử giam đối với bị cáo Triệu Tài A. Trong quá trình xem xét, giải quyết tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Sỹ G đã treo cổ tự sát chết tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên tòaphúc thẩm, Kiểm sát viên chủ động tham gia xét hỏi, làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo Triệu Tài A, nhất là đối với hành vi bị cáo dùng phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm để thực hiện tội phạm, có viện dẫn các quy định của pháp luật để bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa tự tin tranh luận, phản bác quan điểm và luận cứ của Luật sư đưa ra về việc bị cáo Triệu Tài A không phạm tội theo Điểm d, Khoản 2, Điều 168Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên không chấp nhận luận cứ bào chữa của Luật sư về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54Bộ luật Hình sự,quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Triệu Tài A; đồng thời, chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt và xét xử tù giam đối với bị cáo Triệu Tài Acủa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên,tuyên phạt bị cáo Triệu Tài A 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” và tuyên hủy Bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án phần quyết định đối với bị cáoNguyễn Sỹ G, do bị cáo đã chếttrước ngày mở phiên tòa xét xử phúc thẩm.

Thông qua việc phối hợp tổ chức phiên toà rút kinh nghiệm, đã tạo điều kiện cho cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự có điều kiện trao đổi, học hỏi, rút kinh nghiệm và bổ sung, nâng cao kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa./.

 

6

PHÒNG THQCT & KSXX ÁN HÌNH SỰ  KIỂM TRA, KHẢO SÁT TẠI VKSND HUYỆN PHÚ BÌNH VÀ VKSND THỊ XÃ PHỔ YÊN

28 Tháng Tám, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện chủ trương hướng về cơ sở, Phòng 7 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên xây dựng Kế hoạch số 155 ngày 10/6/2019 về Kiểm tra, khảo sát công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm án  hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã, tỉnh Thái Nguyên.

Trong các ngày 21 và 23/8/2019, Phòng 7 đã đi kiểm tra, khảo sát về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trên hồ sơ kiểm sát đã xét xử sơ thẩm tại VKSND huyện Phú Bình và VKSND thị xã Phổ Yên. Thông qua việc kiểm tra, khảo sát trên hồ sơ án hình sự đã được xét xử sơ thẩm của VKSND cấp huyện, thị xã đã làm rõ những mặt đã làm được, những yếu kém, hạn chế, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự, hạn chế những vi phạm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, chống tội phạm, yêu cầu về phòng chống oan, sai.

Kết thúc đợt kiểm tra, khảo sát, Phòng 7 sẽ tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự./.

                                                                   Trần Thị Thu Thảo – Phòng 7

Page 1 of 3123