Tag Archives: phòng 10

Tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam – Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

24 Tháng Mười Một, 2020 Đảng bộ, Đảng đoàn thể

Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam – Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2020). TG trân trọng giới thiệu toàn văn bản Tài liệu.

  1. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM RA ĐỜI – BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ PHONG TRÀO CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN TA

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược, thống trị nước ta, từng biến nước ta thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Chúng đã dùng nhiều thủ đoạn thống trị, áp bức, bóc lột hết sức tàn bạo và tìm mọi cách để đàn áp, dập tắt phong trào yêu nước và phong trào cách mạng của Nhân dân ta. Lúc này, tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến.

Dưới tác động chính sách thống trị của thực dân Pháp và một số yếu tố khác, làm cho xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc, các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp nổ ra liên tiếp từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX nhưng lần lượt bị thất bại vì thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức vững mạnh, thiếu lực lượng tiên phong. Điều đó được Lãnh tụ Hồ Chí Minh kết luận: “Từ ngày bị đế quốc xâm chiếm, nước ta là một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác. Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra”[1]

Trong bối cảnh đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã không đi theo con đường cứu nước của các vị tiền bối vì nhận thấy ở đó còn những hạn chế. Người tìm hiểu một số cuộc cách mạng tư sản, nhất là Đại cách mạng Pháp năm 1789 với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền và khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” nổi tiếng; cách mạng Bắc Mỹ với Tuyên ngôn độc lập năm 1776 tuyên bố về quyền con người thiêng liêng bất khả xâm phạm, nhưng nhận thấy ở đó “vẫn còn áp bức bất công”, không thể đáp ứng yêu cầu của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, Người tìm được và quyết định đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 của V.I Lênin – Lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới, người kế thừa và phát triển di sản vĩ đại của C.Mác – Ph.Ănghen.

Qua thời gian chuẩn bị về tư tưởng, lý luận, tổ chức và cán bộ, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2/1930 tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc; thông qua Chánh cương vắn tắtSách lược vắn tắtChương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Người soạn thảo, vạch ra những vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng Việt Nam, trong đó có những nội dung về yêu cầu tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là cơ sở quan trọng để sau đó Đảng ta xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh đang diễn ra sôi nổi và rầm rộ trong cả nước; ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh – hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam. Chỉ thị xác định Hội Phản đế Đồng minh phải bảo đảm tính công nông; đồng thời phải mở rộng tới các thành phần trong dân tộc để Mặt trận thực sự là của toàn dân và nhấn mạnh: “giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công”.

Hội Phản đế Đồng minh là hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành về nhận thức và chỉ đạo thực tiễn cách mạng của Đảng ta. Đó cũng là cống hiến vĩ đại về lý luận và thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc, là thành quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đủ trưởng thành, đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng.

Từ đó tới nay, tuy có những hình thức và tên gọi khác nhau cho phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng nhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam luôn là nơi tập hợp các giai tầng xã hội vì mục tiêu lớn của dân tộc.

  1. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VẺ VANG VÀ ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM
  2. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng (1930 – 1945)
  3. Hội Phản đế Đồng minh (11/1930-3/1935)

Ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh. Đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ khi thành lập đến tháng 3/1935, Hội Phản đế Đồng minh đã có nhiều đóng góp quan trọng cho cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

  1. Hội Phản đế Liên minh (3/1935-10/1936)

Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất của Đảng thông qua Nghị quyết về công tác Phản đế Liên minh. Nghị quyết xác định các nhiệm vụ cần thiết trước mắt: lập tức tổ chức ra các Hội Phản đế Liên minh, đảng viên phải vào Hội, mở rộng tổ chức Hội tới cấp toàn Đông Dương, lôi kéo rộng rãi các tổ chức, cá nhân có tính chất phản đế phải liên kết cuộc vận động Phản đế Liên minh vốn có những khẩu hiệu chung tuyên truyền lớn lao với các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày. Phải ra báo và tài liệu riêng cho Phản đế Liên minh; cần sửa đổi những sai sót về tôn chỉ, điều lệ, các hình thức tổ chức Phản đế Liên minh của các đảng bộ.

  1. Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương (10/1936-3/1938)

Những năm 1936 – 1939, tình hình thế giới diễn biến mau lẹ, phức tạp. Chủ nghĩa phát xít xuất hiện, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đến gần. Sau khi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7 trở về, Đoàn đại biểu Đảng ta cùng với Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị (tháng 11/1936) xác định mục tiêu chủ yếu và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Đảng quyết định tạm thời chưa nêu khẩu hiệu “đánh đổ đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày” đồng thời chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương tập hợp các lực lượng toàn Đông Dương vào cuộc đấu tranh chống đế quốc.

  1. Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3/1938-11/1940)

Để phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 3/1938 quyết định đổi tên thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Nhờ có chính sách Mặt trận đúng đắn, có phương pháp vận động khôn khéo, phương pháp đấu tranh linh hoạt nên Mặt trận đã tập hợp, đoàn kết rộng rãi các giai tầng xã hội như công nhân, nông dân, tiểu thương, tiểu chủ tư sản nhỏ, đồng thời còn bắt tay với các đảng phái cải lương, kể cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương nhằm chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình.

  1. Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế (11/1940-5/1941)

Ngày 01/9/1939 Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, tháng 9/1940 phát xít Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp thoả hiệp với phát xít Nhật, thẳng tay đàn áp phong trào dân chủ chống chiến tranh của Nhân dân ta. Tháng 11/1940 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế, nhằm tập hợp hết thảy những lực lượng phản đế, phản phong kiến ở Đông Dương đánh đổ đế quốc Pháp – phát xít Nhật và bè lũ tay sai phản lại quyền lợi dân tộc. Nhờ những chủ trương đúng đắn đó, các tổ chức phản đế nhanh chóng được phát triển, Mặt trận được mở rộng trong các tầng lớp Nhân dân.

  1. Mặt trận Việt Minh (thành lập từ tháng 5/1941)

Nhận thấy sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước có lợi cho cách mạng Việt Nam, ngày 28/01/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước (sau hơn 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài). Tháng 5/1941 Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám. Hội nghị nhận định: Cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc giải phóng, trước mắt tạm gác khẩu hiệu “cách mạng thổ địa” để lôi kéo địa chủ tiến bộ, mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp, Nhật nhằm giải quyết nhiệm vụ sống còn của dân tộc lúc này là giải phóng dân tộc.  Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh bao gồm các hội cứu quốc của các tầng lớp Nhân dân.

Tháng 10/1941,Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Đây là lần đầu tiên một Mặt trận Dân tộc Thống nhất trình bày công khai đường lối, chính sách, phương pháp tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu nước của mình. Ngày 07/5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị về sửa soạn khởi nghĩa. Tháng 10/1944 Bác Hồ có thư kêu gọi đồng bào ra sức chuẩn bị để họp toàn quốc Đại hội, đại biểu cho tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể trong nước để bầu cử ra “Một cơ cấu đủ lực lượng và uy tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”.

Ngày 22/12/1944 Bác Hồ ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày 09/3/1945 Nhật lật đổ Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện Chỉ thị đó, một cao trào cách mạng đã xuất hiện ở nhiều nơi; khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh được thành lập. Tình hình chuyển biến mau lẹ, phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng minh. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào dũng cảm tiến lên dưới ngọn cờ của Việt Minh hãy “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp ở Tân Trào trong 2 (ngày 16 -17/8/1945) đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa do Đảng Cộng sản kiến nghị, thông qua Lệnh khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định Quốc kỳ, Quốc ca. “Đại hội đã cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, sau này trở thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” do Lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chỉ trong vòng 2 tuần lễ chính quyền địch hoàn toàn sụp đổ, Ủy ban Nhân dân lâm thời được thành lập khắp các địa phương trong cả nước. Ngày 02/9/1945 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

  1. Thời kỳ bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1946 – 1975)
  2. Mặt trận Việt Minh tăng cường đoàn kết toàn dân góp phần bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt hoành hành. Để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù và tay sai, nhiệm vụ củng cố và phát triển Việt Minh được đề ra cụ thể; việc phát triển các tổ chức cứu quốc thống nhất trong cả nước trở thành vấn đề cần kíp. Trước sự hoạt động ráo riết của các loại kẻ thù, Đảng ta chuyển vào hoạt động bí mật; từ đó vai trò của Việt Minh trong đời sống chính trị của đất nước ngày càng được đề cao và ngày càng thu nhận thêm những thành viên mới, góp phần ngăn chặn, phân hóa hàng ngũ các đảng phái chính trị phản động bám gót quân Tưởng, đồng thời tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia các phong trào sản xuất cứu đói, tuần lễ vàng, hũ gạo tiết kiệm… Nhờ những hoạt động có hiệu quả của Việt Minh, khối đại đoàn kết toàn dân thực sự trở thành hậu thuẫn vững chắc chống thù trong giặc ngoài, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh nguy hiểm, bảo vệ được chính quyền, chủ động chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Đánh giá công lao to lớn của Việt Minh, Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc Thống nhất Việt Minh – Liên Việt tháng 3/1951 nêu rõ: “Việt Minh có công lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chống quân cướp nước. Công đức ấy tất cả mọi người Việt Nam phải ghi nhớ. Lịch sử của Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang lịch sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

  1. Mặt trận Thống nhất Việt Minh – Liên Việt (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) đóng góp to lớn đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

Để đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, Bác Hồ và Trung ương Đảng chủ trương vận động thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt). Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 29/5/1946 Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam tuyên bố thành lập. Cương lĩnh của Hội chỉ rõ: “Mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập – thống nhất – dân chủ – phú cường”. Việc thành lập Hội Liên Việt là bước phát triển mới của Mặt trận Dân tộc Thống nhất.

Thực hiện Lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt đã ra sức tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia kháng chiến. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt ngày càng sát cánh bên nhau, đẩy mạnh mọi hoạt động, xây dựng tổ chức, phát triển lực lượng nhằm mục tiêu chung là kháng chiến thắng lợi, giành độc lập dân tộc. Việc thống nhất Việt Minh và Liên Việt trở thành yêu cầu khách quan của kháng chiến và sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

Ngày 03/3/1951, Đại hội toàn quốc Mặt trận Thống nhất Việt Minh – Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) được tiến hành. Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Đương (5/1951), tuyên bố ra công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Liên Việt đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ: Tăng cường đại đoàn kết toàn dân, vận động các giới đồng bào chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước, đập tan mọi hoạt động tàn bạo và âm mưu thâm độc của kẻ thù, vận động Nhân dân thực hiện giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất nhằm động viên khí thế cách mạng của nông dân, tăng cường liên minh công nông, góp phần củng cố Mặt trận Dân tộc Thống nhất.

Quá trình kháng chiến toàn dân, toàn diện làm cho Mặt trận Dân tộc Thống nhất không ngừng lớn mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Qua 9 năm kháng chiến, Mặt trận Liên Việt trở thành “… Một trong những trụ cột của Nhà nước dân chủ nhân dân, là sức mạnh vô biên của cuộc kháng chiến, kiến quốc; là cơ sở quần chúng rộng rãi làm thành một áo giáp vững bền của Đảng để đánh thắng bọn xâm lược và tay sai của chúng”.

  1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng

Ngày 10/9/1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất họp tại Hà Nội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thông qua Cương lĩnh nhằm đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra sức vận động các tầng lớp Nhân dân thi đua yêu nước, tham gia khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thực sự là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Để Mặt trận không ngừng phát huy vai trò, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm theo dõi và chỉ đạo công tác Mặt trận. Tại lớp huấn luyện cán bộ Mặt trận (8/1962), Người chỉ rõ: “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III năm 1960 của Đảng nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đoàn kết các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước và tán thành chủ nghĩa xã hội, nhờ đó đã động viên mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ của dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”.

Từ cao trào đấu tranh của Nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Namra đời với bản Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm, nội dung cơ bản là đoàn kết rộng rãi các tầng lớp Nhân dân với mục tiêu đấu tranh “Phải hòa bình! Phải độc lập! Phải dân chủ! Phải cơm no, áo ấm! Phải hòa bình, thống nhất Tổ quốc!” nhằm đánh đổ chế độ độc tài tay sai của đế quốc Mỹ. Trong quá trình hoạt động, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã kịp thời đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Đại hội lần thứ I (3/1962) quyết định nhiều chính sách lớn về đối nội, đối ngoại như: vấn đề hòa bình, trung lập, dân tộc, ruộng đất, trí thức, tư sản, tôn giáo, ngoại kiều và chính sách đối với binh lính và ngụy quyền miền Nam… tạo điều kiện đoàn kết rộng rãi nhất, sẵn sàng bắt tay với những ai tán thành chống Mỹ, cứu nước và thống nhất đất nước.

Ngày 20/4/1968, trong khí thế của Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam ra đời với bản Cương lĩnh thích hợp nhằm đoàn kết, tranh thủ thêm tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở thành thị nhưng chưa tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 06/6/1969, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn.

Từ khi ra đời, Mặt trận đã làm một phần chức năng của chính quyền dân chủ Nhân dân. Sau khi có Chính phủ Cách mạng lâm thời, Mặt trận giữ vai trò trụ cột và làm hậu thuẫn cho chính quyền cách mạng, không ngừng đẩy mạnh hoạt động trên cả ba mặt quân sự, chính trị và ngoại giao, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

  1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

– Từ ngày 31/01 đến 04/2/1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam quyết định hợp nhất 3 tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, lấy tên chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đại hội đã thông qua chương trình chính trị và điều lệ mới nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp Nhân dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong Nhân dân, phát huy nhiệt tình cách mạng và tinh thần làm chủ, động viên nhân dân hăng hái tham gia xây dựng và củng cố chính quyền, xây dựng Hiến pháp chung của cả nước; tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục thiên tai, phát triển kinh tế…

Ngày 18/4/1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá V) ra Chỉ thị số 17 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới” chỉ rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn nhất, vừa có tính chất liên hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc. Mặt trận đại diện cho quyền làm chủ của Nhân dân lao động, là sợi dây nối liền các tầng lớp xã hội rộng rãi với Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước”.

– Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II (từ 12 đến 14/5/1983) thông qua Chương trình hành động và ra lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ cả nước đoàn kết phấn đấu khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách, góp sức cùng với Đảng và Nhà nước tìm ra những giải pháp có hiệu quả để đưa đất nước tiến lên.

– Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III (họp từ ngày 2 đến ngày 4/11/1988) là Đại hội thực hiện công cuộc đổi mới do Đại hội VI (1986) của Đảng đề ra, là “sự biểu dương lực lượng to lớn của toàn dân, đoàn kết một lòng tiến hành công cuộc đổi mới”. Phương hướng tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận được Đại hội nêu ra là:

+Mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về hoạt động và tổ chức nhằm tập hợp mọi lực lượng, mọi khả năng, phấn đấu vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của Nhân dân.

+Hướng hoạt động của Ủy ban Mặt trận các cấp đi vào thực hiện một cách thiết thực các nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của đất nước, địa phương và đời sống của Nhân dân; tập trung vào việc vận động Nhân dân tham gia xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng chính quyền Nhân dân và thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội.

+ Phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực vươn lên; ra sức khai thác mọi tiềm năng và các điều kiện thuận lợi, khắc phục khó khăn, tự đổi mới và góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới chung của đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể Nhân dân và của cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận”.

Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Nhà nước đã đẩy mạnh việc thể chế hóa vai trò, vị trí trách nhiệm của Mặt trận trên một số lĩnh vực hoạt động. Ngày 17/11/1993, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết 07-NQ/TW về “Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất”, đề ra 4 chủ trương lớn, đồng thời là 4 quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc và tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (họp từ ngày 17 đến 19/8/1994) đã đề ra phương hướng tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận nhằm làm tốt hơn nữa chức năng đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi lực lượng tán thành sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Thực hiện các nghị quyết Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng và chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước”; kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá X năm 1999 đã thông qua Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả, mở rộng về tổ chức và hoạt động, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy vị trí, vai trò của Mặt trận trong đời sống chính trị – xã hội. Hội nghị lần thứ 2 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa IV) đã quyết định mở Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”. Ngày 03/5/1995 Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Thông tri 04 hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (nay là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”).

– Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ V (họp từ ngày 26 đến 28/8/1999) đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, là Đại hội phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10 năm 2000, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” trong phạm vi toàn quốc, thể hiện chủ trương phù hợp với lòng dân, ý Đảng, mang ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc.

– Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VI (họp từ ngày 21/9 đến 23/9/2004) là Đại hội “Phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp Nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh thành hiện thực cuộc sống. Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể Nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.

– Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII được tổ chức trong các ngày 28, 29 và 30/9/2009 tại Thủ đô Hà Nội. Chủ đề của Đại hội là Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh“.

Đại hội đã đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hành động nhiệm kỳ 2009-2014 và chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước. Đại hội đã ra lời kêu gọi các tầng lớp Nhân dân ở trong nước và ở nước ngoài đoàn kết, đồng tâm hiệp lực cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, đồng lòng chung sức thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Trong nhiệm kỳ Đại hội, ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định 217-QĐ/TW về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW về việc ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Sau khi các Quyết định nêu trên được ban hành, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành, phối hợp và đề xuất với các cơ quan chức năng ban hành nhiều văn bản quán triệt, triển khai thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong hệ thống MTTQ Việt Nam, như:  Thông tri số 28/TTr-MTTW-BTT ngày 17/4/2014 hướng dẫn thực hiện một số điều Quyết định số 217, Quyết định số 218; Kế hoạch số 471/KH-MTTW-BTT ngày 17/4/2014 về triển khai thực hiện Quyết định số 217, Quyết định số 218 trong hệ thống MTTQ Việt Nam. Đến nay, các hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của MTTQ Việt Nam từng bước đi vào nề nếp. MTTQ Việt Nam các cấp đã tích cực bám sát chương trình, kế hoạch của cấp ủy, chính quyền các cấp và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền của địa phương, những vấn đề xã hội và nhân dân quan tâm, bức xúc để giám sát, phản biện xã hội hàng năm. Góp ý thường xuyên, định kỳ, đột xuất được quan tâm hơn; gắn giám sát, phản biện xã hội với nhiệm vụ lắng nghe ý kiến Nhân dân, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động.

– Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII (họp từ ngày 25/9 đến 27/9/2014) được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Phát triển”. Đại hội đã đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII (2009 – 2014); rút ra những bài học kinh nghiệm, nhận định, đánh giá cụ thể, toàn diện về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đề ra mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ VIII (2014 – 2019). Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới”, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VIII thiết tha kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam ta ở trong nước và nước ngoài tích cực hưởng ứng thực hiện 5 chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng Đảng và Nhà nước tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc.

– Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019 – 2024 từ ngày 18 đến ngày 20/9/2019 tại Thủ đô Hà Nội, với chủ đề: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chương trình hành động Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019 – 2024 là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tăng cường củng cố liên minh chính trị, xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; tăng cường đồng thuận xã hội, thúc đẩy tinh thần thi đua sáng tạo, phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trải qua gần một thế kỷ, với nhiều hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn trung thành với lợi ích của Nhân dân, tiêu biểu cho truyền thống đoàn kết dân tộc, là biểu tượng về lòng tự hào, tự tôn dân tộc, là trí tuệ, sức mạnh không gì lay chuyển nổi của các thế hệ người Việt Nam yêu nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

III. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay nêu cao vai trò, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đại hội lần thứ IX Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề ra là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tăng cường củng cố liên minh chính trị, xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; tăng cường đồng thuận xã hội, thúc đẩy tinh thần thi đua sáng tạo, phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Để đạt được mục tiêu trên đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên thống nhất hành động, quyết tâm phấn đấu thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm như sau:

Thứ nhất, tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân; củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp Nhân dân. Tập hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân để kịp thời phản ánh đến các cơ quan Đảng, Nhà nước; theo dõi, giám sát và đôn đốc việc xử lý, giải quyết.

Thứ hai, vận động Nhân dân thi đua học tập, lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh của đất nước. Vận động Nhân dân phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, thi đua học tập, lao động sáng tạo, phát triển sản xuất, kinh doanh, phát huy tài năng, sáng kiến, giúp nhau giảm nghèo bền vững, vươn lên làm giàu chính đáng, cùng Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành vượt qua khó khăn, thách thức, tạo đà tăng trưởng vững chắc của nền kinh tế quốc gia, cải thiện nâng cao chất lượng toàn diện đời sống Nhân dân. Vận động Nhân dân tăng cường tự quản, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, chăm lo sự nghiệp giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp; gương mẫu chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm, đẩy lùi tiêu cực, tội phạm và tệ nạn xã hội. Phát huy truyền thống tương thân tương ái; thực hiện công tác đền ơn, đáp nghĩa, bảo đảm an sinh xã hội; triển khai các hoạt động cứu trợ, nhân đạo từ thiện, vận động giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, bị thiệt hại do thiên tai, hoạn nạn.

Thứ ba, thực hiện dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh. Tiếp tục vận động, phát huy vai trò Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; tổ chức góp ý và tập hợp ý kiến của Nhân dân tham gia vào các dự thảo văn kiện và sáng kiến tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đất nước vào dịp đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Phối hợp hoàn thiện các quy định pháp luật, tổ chức và vận động cử tri, Nhân dân thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm trong bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026; nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức tiếp xúc cử tri. Phát huy vai trò của Mặt trận và sức mạnh của Nhân dân trong tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tăng cường giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng, phản biện dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thứ tư, tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng hoạt động đối ngoại Nhân dân. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại Nhân dân theo phương châm “chủ động, sáng tạo, hiệu quả”, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng, tăng cường ngoại giao của Nhà nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương đối ngoại của Đảng, chính sách ngoại giao của Nhà nước. Vận động, tạo sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững hòa bình, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Thứ năm, tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Kiện toàn Ủy ban Mặt trận các cấp với thành phần, cơ cấu hợp lý để Mặt trận thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, đại diện tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ cơ quan chuyên trách Ủy ban Mặt trận các cấp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ của Mặt trận chuyên nghiệp, tâm huyết và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của công tác vận động quần chúng. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ năng lực đội ngũ cho cán bộ chuyên trách; phát huy mạnh mẽ vai trò của đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Tư vấn, Ban Tư vấn, Ban công tác Mặt trận ở địa bàn dân cư. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận trên cơ sở đổi mới toàn diện các mặt công tác, các lĩnh vực hoạt động của Mặt trận, từ việc xây dựng và ban hành chủ trương, tổ chức triển khai thực hiện, tăng cường cơ chế phối hợp trong và ngoài hệ thống.

Hướng tới kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất – Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2020), chúng ta càng tự hào về truyền thống yêu nước, vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, kế thừa và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố cơ bản để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

 BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG – MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

ĐOÀN VIÊN CÔNG ĐOÀN VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN THAM GIA HIẾN MÁU TÌNH NGUYỆN

23 Tháng Mười Một, 2020 Bài viết nổi bật, Đảng bộ, Đảng đoàn thể

Hưởng ứng phong trào “Hiến máu tình nguyện” do Ban chỉ đạo vận động Hiến máu tình nguyện tỉnh Thái Nguyên phát động và vận động của Công đoàn Viên chức tỉnh Thái Nguyên về đăng ký hiến máu tình nguyện đợt II năm 2020, sáng ngày 21/11/2020, Đoàn viên công đoàn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tham gia hiến máu nhân đạo với tinh thần tự nguyện, tôn vinh vẻ đẹp của truyền thống tương thân tương ái.

95

ĐVCĐ VKS tỉnh tham gia hiến máu

Đây là một trong những hoạt động nhân đạo có ý nghĩa, thường xuyên được cán bộ, công chức, Đoàn viên công đoàn trong đơn vị hưởng ứng và tham gia rất tích cực. Qua đó, cho thấy phong trào “Hiến máu tình nguyện” đã ngày càng trở thành một việc làm có ý nghĩa hết sức cao đẹp, được xã hội tôn vinh. Những giọt máu tình nguyện sẽ đem lại sự sống cho những người kém may mắn, mang đến niềm tin, niềm hy vọng cho sự sống của con người.

Hy vọng thông qua ngày “Hiến máu tình nguyện” này, càng ngày có càng nhiều người, nhiều thành phần xã hội hiểu biết và hiểu đúng hơn về hiến máu nhân đạo, nhiều cơ quan đoàn thể cùng tham gia hiến máu nhân đạo và vận động hiến máu tình nguyện, để góp phần hỗ trợ việc điều trị cho các bệnh nhân phải truyền máu.

Lan Anh- Phòng 10

Phòng 10: KIẾN NGHỊ YÊU CẦU KHẮC PHỤC VI PHẠM trong việc Ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sử cai nghiện bắt buộc không đúng pháp luật

4 Tháng Mười Một, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Trong quý III vừa qua, thông qua công tác kiểm sát các quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Phòng 10- VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy có một số Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện ban hành có những vi phạm:

  1. Lý do và các căn cứ ra quyết định không đúng pháp luật.

Qua nghiên cứu các Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã phát hiện một số trường hợp, trong hồ sơ thể hiện người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đều có nơi cư trú ổn định. Tuy nhiên Tòa án nhân dân cấp huyện khi ban hành Quyết định đã áp dụng quy định đối với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định, nêu lý do và căn cứ áp dụng không đúng với hồ sơ đề nghị. Việc ban hành Quyết định nêu trên của Tòa án cấp huyện là chưa thực hiện đúng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

  1. Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không đúng đối tượng.

Một số trường hợp người bị đề nghị bị Tòa án nhân dân cấp huyện quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đều có nơi cư trú ổn định, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị phát hiện bằng biện pháp sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật “Xét nghiệm chất ma túy” của Trạm Y tế xã. Trong phần nội dung Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án thể hiện các trường hợp nêu trên đều chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy. Như vậy, Tòa án cấp huyện Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp nêu trên là không thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc.

Để thống nhất thực hiện đúng pháp luật quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Phòng 10 VKSND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành kiến nghị đến đơn vị có vi phạm, yêu cầu rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phục không để vi phạm tương tự nêu trên xảy ra./.

Lan Anh- Phòng 10

Một người kiểm sát viên thầm lặng trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp

17 Tháng Chín, 2020 GIẢI BÁO CHÍ TOÀN QUỐC BÚA LIỀM VÀNG

Gắn bó với Ngành kiểm sát gần 40 năm, bằng tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với Ngành với nghề, đồng chí Lê Văn Mạnh, Trưởng phòng 10- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều hoạt động và sáng kiến trong công tác nghiệp vụ cũng như công tác quản lý, điều hành. Quan trọng hơn đó chính là tinh thần không ngừng rèn luyện, học hỏi, cách làm việc khoa học và áp dụng công nghệ thông tin trong công tác, cùng lối sống gần gũi, giản dị, đồng chí đã trở thành tấm gương sáng trong việc xây dựng hình ảnh người kiểm sát nhân dân “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” xứng đáng để cán bộ, công chức ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu gương.

Sinh ra và lớn lên ở quê hương Nam Định, nơi sinh ra những người con ưu tú, bản thân gia đình giàu truyền thống cách mạng, có nhiều cống hiến, hy sinh cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, đồng chí Lê Văn Mạnh cũng góp sức trẻ cho quê hương đất nước. Năm 1978 sau khi học xong cấp III tại Hà Nam, đồng chí Lê Văn Mạnh xung phong đi bộ đội, đóng quân tại Cao Bằng. Trong thời gian trong quân đội, đồng chí vẫn tiếp tục học hỏi nghiên cứu ôn thi Đại học, đến năm 1984 đồng chí Mạnh thi đỗ trường Đại Học Pháp Lý (nay là trường Đại Học Luật Hà Nội). Trong thời gian miệt mài sách vở tại trường Đại Học, đồng chí Lê Văn Mạnh vẫn luôn ý thức được việc phải luôn rèn luyện và phấn đấu, tu dưỡng bản thân như trong thời gian đi bộ đội, cống hiến hết mình để luôn kế thừa, phát huy truyền thống cách mạng và những hy sinh, cống hiến cho đất nước của thế hệ cha ông. Năm 1988 đồng chí tốt nghiệp ra trường với tấm bằng loại ưu, xung phong lên vùng đất chè của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đồng chí đã sinh sống và cống hết hết thời trẻ của mình tại mảnh đất này và đồng chí đã gắn bó và coi là quê hương thứ hai. Đồng chí đã cống hiến 21 năm tại mảnh đất chè Đại Từ, luôn luôn phấn đấu và rèn luyện phẩm chất đạo đức của người Kiểm sát viên, đúng như lời Bác dạy: Cán bộ kiểm sát phải “Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”.

Đến năm 2010, đồng chí Mạnh được phân công công tác tại phòng 5- VKSND tỉnh Thái Nguyên (nay là phòng 9). Năm 2013 được sự quan tâm tín nhiệm và tin tưởng của lãnh đạo VKSND tỉnh Thái Nguyên, đồng chí Mạnh được bổ nhiệm chức danh Trưởng phòng 10 (Phòng kiểm sát án hành chính, kinh tế, lao động) cho đến nay. Mặc dù vào ngành Kiểm sát, gắn bó gần 40 năm, đồng chí Mạnh đã trải qua nhiều công tác nghiệp vụ tại nhiều vị trí, đơn vị khác như nhưng dù ở cương vị nào, đơn vị nào, đồng chí luôn nhận thức được vinh dự và trách nhiệm của người cán bộ ngành Kiểm sát nên đã không ngừng học tập, rèn luyện khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bất kỳ ở vị trí công việc nào đồng chí cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, được ban Lãnh đạo, cán bộ, kiểm sát viên trong đơn vị tín nhiệm. Cá nhân đồng chí đạt nhiều thành tích xuất sắc: Chiến sỹ thi đua Ngành, được tối cao tặng bằng khen trong các đợt thi đua ngắn hạn, dài hạn, năm 2019 được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tặng Bằng khen trong đợt thi đua khen thưởng đột xuất.

Với cương vị là Trưởng phòng, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và tập thể phòng 10 cũng như các cán bộ công chức trong phòng có nhiều bước tiến bộ và phát triển nhanh chóng với  02 năm đạt cờ thi đua ngành và cờ thi đua dẫn đầu khối ngành Kiểm sát nhân dân; hai năm liên tiếp được tặng bằng khen vì tập thể đạt lao động xuất sắc, năm 2019 phòng được VKSND tối cao tặng bằng khen đột xuất vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác. Trong thời gian công tác trong Ngành kiểm sát dù bất cứ ở cương vị nào, đơn vị nào đồng chí không để xảy ra oan, sai; công tác chuyên môn có nhiều đổi mới, nhất là công tác án hành chính kinh tế lao động và pháp lệnh cai nghiện 09/2014. Hàng năm đồng chí luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm đáp ứng yêu cầu chính trị địa phương và của Ngành. Ngoài cương vị Trưởng Phòng đồng chí được tín nhiệm bầu cử và tái cử làm bí thư Chi bộ 8- VKSND tỉnh Thái Nguyên. Đồng chí đã quản lý chỉ đạo và xây dựng Chi bộ 8- VKSND tỉnh Thái Nguyên là Chi bộ trong sạch, vững mạnh nhiều năm liền, tổ công đoàn phòng 10 luôn vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

8

Đ/c Lê Văn Mạnh tái cử chức danh Bí Thư chi bộ 8- nhiệm kỳ 2020-2022

Thực hiện theo lời dạy của Bác đối với cán bộ Kiểm sát “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng và Khiêm tốn”, gắn với việc thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” đồng chí luôn tâm huyết xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành kiểm sát tận tuỵ, có chuyên môn vững vàng phục vụ nhân dân và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Là một người lãnh đạo luôn tâm huyết và hết mình cho công tác xây dựng ngành, đồng chí luôn nhấn mạnh việc thực hiện công tác tuyên truyền trong ngành kiểm sát là công tác quan trọng giúp hình ảnh người cán bộ kiểm sát trong sự nghiệp đổi mới, góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Thông qua các bài báo rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát, xét xử án hành chính, kinh tế, lao động và cá việc khác theo quy định của pháp luật. Luôn nêu cao tinh thần lá lành đùm lá rách, đi đầu trong các  hoạt động tuyên truyền, ủng hộ các quỹ từ do ngành, tổ chức phát động. Qua đó góp phần tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện công tác tuyên truyền của ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, giúp hình ảnh người cán bộ kiểm sát gần dân và tạo lòng tin trong nhân dân.

9

Đ/c Lê Văn Mạnh tham gia xét xử trong phiên tòa án hành chính sơ thẩm

Là một người có lối sống gần gũi, giản dị và được nhiều đồng nghiệp yêu mến, với cương vị trưởng phòng, đồng chí luôn quan tâm đến đời sống của cán bộ kiểm sát viên trong phòng, nhất là những đồng chí có hoàn cảnh ốm đau, cuộc sống có nhiều khó khăn thông qua các buổi thăm hỏi tặng quà, hỗ trợ giúp các đồng nghiệp khắc phục khó khăn yên tâm công tác, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Trong cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” đồng chí Lê Văn Mạnh như ngọn lửa thắp sáng niềm tin tiếp sức cho cán bộ, công chức tiếp tục thực hiện mơ ước, hoài bão của mình là góp một phần công sức xây dựng ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên vững mạnh. Những đóng góp và tâm huyết của đồng chí được đồng nghiệp trân trọng và xem đồng chí như một người thầy đáng kính, là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo, tiếp bước xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ngày càng phát triển./.

                                                                                                 Lan Anh- Phòng 10

ĐOÀN THỂ THAO VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN THAM DỰ GIẢI THỂ THAO NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN “CÚP BÁO BẢO VỆ PHÁP LUẬT LẦN THỨ X” NĂM 2020

29 Tháng Sáu, 2020 Bài viết nổi bật, Slider, Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Nhằm tổ chức các hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập ngành Kiểm sát nhân dân (26/7/1960 – 26/7/2020), trong các ngày từ 26 đến 28/6/2020 tại nhà thi đấu thể thao tỉnh Quảng Ninh đã diễn ra giải thể thao ngành Kiểm sát nhân dân “Cúp Báo bảo vệ pháp luật lần thứ X” năm 2020. Đoàn thể thao Viện KSND tỉnh Thái Nguyên dự giải với 11 vận động viên tham gia thi đấu ở 5 nội dung gồm: Cầu lông đôi nam nhóm 1 (từ 38 tuổi trở xuống); cầu lông đôi nam nữ nhóm 2 (từ 39 tuổi đến 49 tuổi); bóng bàn đơn nam nhóm 1; bóng bàn đôi nam nữ nhóm 1 và tennis đôi nam nhóm 1.

481

482

Đ/c Lý Văn Huấn- Phó Viện trưởng VKS tỉnh- Trưởng đoàn cùng các Vận động viên Đoàn thể thao Viện KSND tỉnh Thái Nguyên tại Lễ khai mạc

Sau 02 ngày thi đấu sôi nổi, với tinh thần đoàn kết, cao thượng. Đoàn thể thao Viện KSND tỉnh Thái Nguyên đã giành được 01 huy chương đồng môn bóng bàn đơn nam nhóm 1 của đồng chí Đỗ Xuân Thắng; 01 huy chương đồng môn Tennis đôi nam nhóm 1 của đồng chí Nguyễn Thanh Phong, Hoàng Thanh Nhã; Viện KSND tỉnh Thái Nguyên được giải phong trào do Ban tổ chức trao tặng.

Một số hình ảnh các VĐV của đoàn Thái Nguyên thi đấu

487

486

485 483 484

488

Đ/c Đỗ Xuân Thắng đạt huy chương đồng bóng bàn đơn nam nhóm 1

489

Đ/c Nguyễn Thanh Phong, Hoàng Thanh Nhã huy chương đồng môn Tennis đôi nam nhóm 1

490

Đoàn thể thao Viện KSND tỉnh Thái Nguyên tại lễ trao giải

Giải thể thao ngành Kiểm sát nhân dân “Cúp Báo Bảo vệ pháp pháp luật lần thứ X” năm 2020 đã thành công tốt đẹp. Thông qua việc tham dự giải đã góp phần mở rộng quan hệ giao lưu, học hỏi, đoàn kết với các Viện kiểm sát địa phương; là động lực đẩy mạnh phong trào tập luyện thể thao nâng cao sức khỏe trong cán bộ, công chức Viện KSND tỉnh Thái Nguyên nói riêng và toàn ngành Kiểm sát nhân dân nói chung.

Tin bài: Đỗ Chung- Phòng 10

RÚT KINH NGHIỆM Trong việc thực hiện công tác kiểm sát bản án của tòa án cấp sơ thẩm

12 Tháng Năm, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua kiểm sát bản án KDTM sơ thẩm của TAND TP Thái Nguyên, giữa: Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Nhật Minh. VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy VKSND thành phố Thái Nguyên còn một số thiếu sót, vi phạm trong việc gửi bản án cho VKSND tỉnh và thực hiện công tác kiểm sát bản án của Tòa án cùng cấp không phát hiện được vi phạm của Tòa án, cần thiết phải rút kinh nghiệm chung, cụ thể:

  1. Vi phạm thời hạn gửi bản án cho VKSND tỉnh Thái Nguyên không đúng quy định.

Căn cứ vào bản án thể hiện, TAND thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử vụ án vào ngày 06/3/2020, đến ngày 10/4/2020 (sau 01 tháng 04 ngày) VKSND tỉnh Thái Nguyên mới nhận được bản án kèm theo phiếu kiểm sát của VKSND TP Thái Nguyên (theo dấu công văn đến của VKSND tỉnh) khi đã hết thời hạn kháng nghị của VKSND cấp tỉnh.

Như vậy việc kiểm sát thời hạn gửi bản án của Tòa án cùng cấp và gửi bản án sơ thẩm cho VKSND cấp trên trực tiếp của VKSND TP Thái Nguyên như nêu trên là chưa thực hiện đúng quy định tại mục 2.4.1 Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND Tối cao về Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính.

2.4.1. Đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật:

Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm kiểm sát đầy đủ các bản án, quyết định do Tòa án chuyển đến. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (hoặc kể từ ngày nhận được bản án trong trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa), 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm kèm theo phiếu kiểm sát cho Viện kiểm sát cấp trên để phối hợp kiểm sát, giải quyết theo thẩm quyền”…

  1. Tòa án ban hành bản án có những vi phạm, cụ thể:

2.1. Vi phạm về hình thức bản án

Tại phần mở đầu của bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên có ghi:

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

– Các hội thẩm nhân dân: ….

– Thư ký phiên Tòa: …..

Không ghi họ, tên của Thẩm phán- Chủ tọa phiên Tòa, nhưng phần cuối của Bản án, mục “Thẩm phán- Chủ tọa phiên Tòa” thì có lại có thẩm phán chủ tọa phiên tòa ký, đóng dấu của TAND TP Thái Nguyên, để ban hành bản án.

Bản án nêu trên của TAND TP Thái Nguyên chưa thực hiện đúng mẫu số 52 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự, có ghi:

“- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(6)

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông (Bà)……………………….……………..

Thẩm phán: Ông (Bà)………………………………………………………………………….

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông (Bà)…………………………………………………………………………………………
  2. Ông (Bà)…………………………………………………………………………………………
  3. Ông (Bà)……………………………………………………………………

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán…”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân”.

Tuy nhiên theo phiếu kiểm sát bản án ngày 03/4/2020 của VKSND TP Thái Nguyên, lại ghi:“Về hình thức bản án đúng theo mẫu số 52 của TAND Tối cao ban hành”.

2.2. Tòa án không quyết định đình chỉ xét xử khi nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện theo quy định.

Tại phần nội dung vụ án trong bản án thể hiện: “Tại phiên Tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với lãi phạt chậm trả đối với bị đơn…”.

Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: “…Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết việc rút một phần yêu cầu về lãi xuất phạt chậm trả của nguyên đơn”

Trong phần nhận xét của bản án sơ thẩm có ghi: HĐXX nhận định “Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu về lãi phạt chậm trả đối với công ty TNHH thương mại Nhật Minh được công ty TNHH thương mại Nhật Minh đồng ý. HĐXX đình chỉ giải quyết việc rút một phần yêu cầu về lãi phạt chậm trả của nguyên đơn”. (Trong bản án không thể hiện Nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn thanh toán khoản tiền lãi phạt chậm trả là bao nhiêu).

Việc nhận định của HĐXX về nội dung nêu trên là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 71; Khoản 2 Điều 244 BLTTDS, đây là một trong những vấn đề HĐXX phải giải quyết trong vụ án và phải được HĐXX quyết định trong bản án.

Tuy nhiên tại phần Quyết định của bản án, Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên lại không quyết định về vấn đề này, đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 266/BLTTDS.

Điều 266. Bản án sơ thẩm

  1. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau:
  2. c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án…”.

Việc HĐXX không quyết định nội dung này trong phần Quyết định của bản án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của đương sự.

Quá trình kiểm sát bản án, Kiểm sát viên cấp sơ thẩm đã không kịp thời phát hiện những thiếu sót, vi phạm của Tòa án để tham mưu cho lãnh đạo thực hiện quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Sau phiên tòa, Kiểm sát viên đã không chú ý kiểm sát việc gửi bản án của Tòa án, không kiểm tra, đôn đốc, yêu cầu Tòa án gửi bản án cho VKSND cùng cấp đúng quy định của pháp luật (Điều 269/BLTTDS) dẫn tới việc gửi bản án cho VKSND tỉnh không đúng quy định, VKSND tỉnh nhận được bản án thì đã hết thời hạn kháng nghị (Điều 280/BLTTDS) nên không thực hiện quyền kháng nghị của VKSND cấp trên trực tiếp.

Lan Anh- Phòng 10

 

ĐẠI HỘI CHI BỘ PHÒNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ, VIỆC LAO ĐỘNG, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

25 Tháng Ba, 2020 Đảng bộ, Đảng đoàn thể

Thực hiện Kế hoạch số 123-KH/ĐUK ngày 02/7/2019; Hướng dẫn số 25-HD/ĐUK ngày 13/11/2019 của Ban thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thái Nguyên về Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025.

Được sự nhất trí của Đảng ủy VKSND tỉnh Thái Nguyên, chiều ngày 23/3/2020, tại Hội trường VKSND tỉnh Thái Nguyên diễn ra Đại hội chi bộ Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc Lao động, kinh doanh, thương mại nhiệm kỳ 2020-2022.

Đến dự  và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh.

3

Đ/c Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Tại Đại hội, đ/c Lê Văn Mạnh thay mặt Đoàn chủ tịch đã thông qua Báo cáo chính trị của Cấp ủy nhiệm kỳ 2017- 2020 trình Đại hội, trong đó đã tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2017 – 2020; báo cáo kiểm điểm của Cấp ủy Chi bộ nhiệm kỳ 2017 – 2020 và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ 2020 -2022.

Trong nhiệm kỳ 2017 – 2020, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy VKSND tỉnh, Cấp ủy Chi bộ cùng với sự cố gắng nỗ lực của từng cán bộ, Đảng viên trong chi bộ, Chi bộ phòng kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc lao động, kinh doanh thương mại đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu công tác. Trong nhiệm kỳ không có Đảng viên vi phạm kỷ luât, các Đảng viên đều hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, tập thể Chi bộ đoàn kết, nhất trí.

4

Đ/c Lê Văn Mạnh – Bí thư Chi bộ phòng KS án hành chính nhiệm kỳ 2017-2020 thông qua báo cáo chính trị.

Phát biểu tại Đại hội đồng chí Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên ghi nhận các kết quả đã đạt được và chỉ ra những tồn tại, hạn chế của Chi bộ trong nhiệm kỳ 2017-2020; đồng thời định hướng cho chi bộ một số nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai thực hiện trong nhiệm kỳ 2020-2022.

5

Đ/c Lý Văn Huấn cùng đại diện Chi bộ chúc mừng 02 đ/c trúng cử Chức danh Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ nhiệm kỳ 2020- 2022

Cũng tại đại hội, các đảng viên trong Chi bộ đã sôi nổi thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến và các dự thảo văn kiện được trình bày tại Đại hội, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Đảng viên và tinh thần dân chủ, sáng tạo. Đại hội đã tín nhiệm bầu đồng chí Lê Văn Mạnh- Trưởng phòng 10 tiếp tục tái cử chức danh Bí thư Chi bộ; bầu đồng chí Đỗ Quang Chung- Phó Trưởng phòng 10 chức danh Phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2020- 2022.

Phát biểu bế mạc Đại hội, đồng chí Bí thư Chi bộ Phòng Kiểm sát giải quyết án hành chính nhiệm kỳ 2020 – 2022 đã tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo của lãnh đạo Đảng ủy, đồng thời thay mặt tập thể đảng viên Chi bộ hứa sẽ quyết tâm phát huy tối đa tinh thần đoàn kết, sáng tạo, hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2020 – 2022.

                                                                          Tin và bài: Lan Anh

RÚT KINH NGHIỆM Rút kinh nghiệm đối với bản án có vi phạm tố tụng hành chính, Bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy.

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân: Năm 1952 bố mẹ ông Cường khai phá được hơn 8.000m2 đất đồi để trồng màu. Năm 1990 gia đình ông Cường đã trồng cây theo dự án PAM để lấy gạo ăn. Năm 1997 ông Lương Văn Cường đã có tên trong sổ giã ngoại tại tờ bản đồ số 66B, diện tích 8.985m2 loại đất rừng, gia đình ông Cường vẫn quản lý và sử dụng đến nay.

Năm 1999 Nhà nước có chủ chương cấp GCNQSD đất do ông Cường không có nhà, UBND xã đã báo con trai là Lương Văn Hà ký thay bố, mẹ để được cấp GCNQSD đất. Ngày 20/12/1999 ông Hà nhận được Quyết định giao đất nông nghiêp số 8195/QĐ-UBND của UBND huyện Đồng Hỷ (nay thuộc thành phố Thái Nguyên) cấp thửa 61a, tờ bản đồ số 7 là 0.28ha và thửa 337a, tờ bản đồ số 8 là 0,32ha. Tổng diện tích đất được cấp 2.800m2 mang tên ông Lương Văn Hà (thiếu so với thực tế trong sổ giã ngoại là 6.185m2), gia đình ông Cường đã nhiều lần làm đơn đề nghị của UBND xã Linh Sơn làm thủ tục cấp GCN.QSDĐ phần đất còn thiếu nhưng UBND không làm thủ tục cấp cho gia đình.

Ngày 16/11/2016, UBND xã Linh Sơn ban hành thông báo số 39/TB-UBND V/v “Trả lời việc cấp GCN.QSDĐ thiếu của gia đình ông Lương văn Cường và bà Đặng Thị Luân” lý do gia đình ông Cường, bà Luân đang tranh chấp với xóm Làng Phan và Phường hiếu xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, nên không đủ điều kiện.

Không đồng ý với văn bản của UBND xã Linh Sơn, ông Cường, bà Luân đã có đơn khởi kiện vụ án hành chính gửi đến Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, đề nghị Tòa án xét xử hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ (nay là thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân. Hủy Quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016.
  2. Kiến nghị UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên xem xét hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân đối với diện tích kê khai còn thiếu tại thử đất số 61, tờ bản đồ số 7, thuộc bản đồ địa chính xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên để đảm bảo quyền lợi của người Sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

Không đồng ý với Quyết định của bản án số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, người bị kiện có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa đã đề nghị: Do quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Kết quả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã chấp nhận, tuyên xử theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Những nội dung cấn rút kinh nghiệm: 

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm sau:

1.Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng:

1.1.Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện tham gia tố tụng không đúng quy định của pháp luật.

Việc xác định ai là người bị kiện thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan tổ chức thì phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

Trong vụ án này, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016. Theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.

Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện trong vụ án là: Chủ tịch UBND xã Linh Sơn là không đúng quy định tại khoản 9 Điều 3 của luật tố tụng hành chính, quy định:

9. Người bị kiện là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

1.2. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định và không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Kết quả xác định hiện trạng sử dụng đất của UBND xã và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện trên diện tích, thửa đất hộ gia đình công Cường, bà Luân xin cấp GCNQSD đất có khoảng 37 ngôi mộ chôn người chết (theo tài liệu của UBND xã), có hơn 20 ngôi mộ chôn người chết (Theo tài liệu thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm), của nhân dân xóm Làng Phan chôn rải rác. Khi hộ ông Cường, bà Luân có đơn xin cấp quyền sử dụng đất, ông Lương Văn Tứ (Trưởng xóm) đại diện cho công đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng vị trí thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất là đất Nghĩa trang của nhân dân xóm Làng Phan, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền làm thủ tục giao thửa đất cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan để làm nghĩa trang chôn người chết sau khi qua đời.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những hộ gia đình có các ngôi mộ trên thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất và cộng đồng dân cư xóm Làng Phan vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Khoản 10 Điều 3 LTTHC quy định:

10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Vi phạm về hoạt động tố tụng và việc xác minh, thu thập chứng cứ.

– Sau khi nhận được hồ sơ vụ án theo quyết định chuyển vụ án của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án số 05/2017/TLST-HC, tuy nhiên tại các văn bản tố tụng sau này và Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Bản án đều xác định là vụ án thụ lý số 06/TLST-HC là không chính xác;

– Ngày 18/12/2017 Tòa án ND thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án; đến ngày 11/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có quyết định phân công kiểm sát viên tham gia phiên tòa là không tuân thủ theo khoản 1 Điều 24 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016, quy định:

“Điều 24. Thông báo Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp

  1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 126 và khoản 1 Điều 217 Luật TTHC,Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa”.

– Ngày 25/3/2019 HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ, tuy nhiên Tòa án chưa tiến hành xác minh thu thập được các tài liệu chứng cứ để khắc phục được lý do tạm ngừng phiên tòa, nhưng lại mở lại phiên tòa và xét xử vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 187 của Luật tố tụng hành chính.

– Nhiều tài liệu có trong hồ sơ vụ án là bản phô tô không được công chứng, chứng thực theo quy định, nhưng Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung hoặc đối chiếu tính xác thực của tài liệu phô tô để sử dụng làm chứng cứ trong vụ án. Khi thu thập chứng cứ Tòa án không lập biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ theo quy định tại Điều 83 của Luật tố tụng hành chính nên không xác định được tài liệu của ai, do ai cung cấp. Sau khi thu thập tài liệu chứng cứ Tòa án không thông báo cho các đương sự về việc thu thập tài liệu chứng cứ để các đương sự thực hiện quyền nghĩa vụ của mình; không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ là vi phạm Điều 4, Điều 98, Điều 138 của Luật tố tụng hành chính.

– Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh, thu thập lời khai của những người là cộng đồng dân cư xóm Làng Phan, của anh Lương Văn Hà  nhưng không  xác định tư cách tố tụng hoặc đưa họ vào tham gia tố tụng của vụ án.

– Khi ông Cường, bà Luân kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 61-TBĐ số 7, ông cho rằng đó là đất của gia đình mình sử dụng vào việc trồng rừng từ những năm 1990, nhưng trên thực tế trên phần diện tích đất này còn có nhiều ngôi mộ và đã được cộng đồng dân cứ xóm Làng Phan sử dụng vào việc chôn cất người chết sau khi qua đời từ năm 1990, ông Lương Văn Tứ đại diện cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng đó là đất nghĩa trang xóm Làng Phan, nhưng Tòa án không tiến hành xác minh, thu thập các thông tin về thửa đất, số lượng cụ thể là bao nhiêu ngôi mộ, cụ thể thân nhân chủ của các ngôi mộ; các tài liệu, chứng cứ và quy định của UBND tỉnh Thái Nguyên trong việc ban hành quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang theo Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/6/2016 của Chính phủ là có nhiều thiếu sót trong việc điều tra, thu thập chứng cứ. Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, không có cơ sở để đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện trong vụ án.

  1. Về việc nhận định, đánh giá và áp dụng pháp của bản án sơ thẩm không phù hợp khách quan:

Tòa án cấp sơ thẩm viện dẫn lý do: “ Tại Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn đã xác định rõ việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Cường, bà Luân vì lý do đất đang có tranh chấp với hội phường hiếu xóm Làng Phan” , là không chính xác, không phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Tòa án không xem xét, đánh giá cộng đồng dân cư xóm Làng phan và phường họ Hiếu xóm Làng Phan có phải là chủ thể có quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5 Luật đất đai năm 2013 hay không?;  Có phải là chủ thể tranh chấp đất đai với gia đình ông Cường hay không mà kết luận: “UBND xã Linh Sơn xác định tranh chấp giữa hộ gia đình ông Cường, bà Luân với phường hiếu xóm Làng Phan là căn cứ duy nhất để ban hành thông báo số 39/TB-UBND” là không khách quan, toàn diện.

Đáng lẽ ra, khi xem xét nội dung này ngoài việc phân tích, áp dụng quy định tại Điều 74, Điều 75 của Bộ luật dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét đánh giá và áp dụng khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm 2013 để xác định chủ thể có quyền được sử dụng đất, đồng thời phân tích đánh giá xem có việc tranh chấp hay không?. Ai là người tranh chấp với ông Cường, bà Luân khi kê khai xin cấp giấy chứng nhận thì mới đảm bảo cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan toàn diện.

– Sau khi Tòa án ND huyện Đồng Hỷ thụ lý vụ án tại thông báo thụ lý số 02/TLST-HC ngày 27/02/2017, UBND xã Linh Sơn có văn bản số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 về việc: “Thông báo trả lời đơn xin cấp GCNQSD đất thiếu của gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân..”. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016, nhưng không xem xét và giải quyết đối với Thông báo số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 của UBND xã Linh Sơn, là chưa giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, vi phạm điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Việc áp dụng pháp luật nội dung: Tòa án không đánh giá phân tích tài liệu, chứng cứ và áp dụng pháp luật nội dung là Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà chỉ áp dụng Bộ luật dân sự loại trừ chủ thể sử dụng đất là thiếu sót.

– Trường hợp HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy quyết định hành chính bị khởi kiện thì buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; Đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy. Nhưng bản án lại kiến nghị UBND xã Linh Sơn xem xét, hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân là vi phạm khoản 1 Điều 6, khoản 3 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Khi giải quyết về phần án phí Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội là không phù hợp.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, nên tại bản án số 01/2019/HC-PT ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu lên để rút kinh nghiệm chung.

                                                                                       Phòng 10

Rút kinh nghiệm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa do áp dụng pháp luật không đúng

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

 

Thông qua công tác xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý số 04/2019/TLST-HC ngày 03/12/2019 đối với  quyết định đình chỉ vụ án hành chính số 02/2019/QĐST-HC ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên có quan điểm như sau:

          – Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định người bị kiện không đúng pháp luật.

          – Áp dụng chế định về án phí không đúng quy định.

Áp dụng điểm b khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định lại người bị kiện, và áp dụng lại chế định về án phí. Hội đồng xét xử đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 NHỮNG NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người bị kiện.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 23/8/2017 ông Đỗ Mạnh Hiếu có đơn tố cáo gửi tới Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên với nội dung: Việc gia đình ông Châu ở số nhà 449/1, đường Cách Mạng Tháng Tám và một số người khác lấn chiếm đất cống rãnh thoát nước, dẫn đến việc nước không thoát được đã ngấm vào nhà ông Hiếu gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông Hiếu.

Căn cứ nội dung đơn tố cáo của ông Hiếu, UBND phường Hương Sơn tiến hành tổ chức xác minh, giải quyết đơn tố cáo theo quy định.

Kết quả Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đã ban hành: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017.

Không đồng ý với nội dung bản kết luận số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, ông Hiếu có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu:

– Hủy toàn bộ kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp nhận ngày 18/12/2018.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, TAND thành phố Thái Nguyên có Thông báo số 06/2018 ngày 28/12/2018 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 21/01/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện: là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp tục có Thông báo số 16/2019 ngày 24/01/2019 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 12/02/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung khác vẫn giữ nguyên.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật, xác định người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả giải quyết vụ án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Theo nội dung trên:

Quyết định hành chính bị kiện trong vụ án là: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản do Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên ban hành trên cơ sở kết quả giải quyết đơn tố cáo của công dân Đỗ Mạnh Hiếu, tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc địa bàn UBND phường Hương Sơn quản lý, người có thẩm quyền giải quyết, được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011; và Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

          Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Điều 38. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Căn cứ quy định trên, Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của ông Đỗ Mạnh Hiếu và ban hành kết luận nội dung giải quyết đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định:

9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là không đúng quy định nêu trên.

Cụ thể trong vụ án này, xác định người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người khời kiện yêu cầu Tòa án:

– Hủy văn bản kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

– Xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Xét các yêu cầu của người khởi kiện nhận thấy:

+ Đối với yêu cầu Hủy kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án thể hiện, người khởi kiện ông Đỗ Mạnh Hiếu không đồng ý với nội dung kết luận giải quyết đơn tố cáo của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp

“1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo”.

Căn cứ quy định trên, việc ông Hiếu không đồng ý với kết quả giải quyết  của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đối với nội dung đơn tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của ông, ông có quyền tố cáo tiếp tới Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên giải quyết, theo quy định trên.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.

+Đối với yêu cầu đề nghị: Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Căn cứ khoản 3; khoản 4 Điều 3 Luật TTHC quy định:

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  1. Hành vi hành chính bị kiệnlà hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định:

“Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”.

Căn cứ quy định trên yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hành chính.

Sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Mạnh Hiếu, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng người khởi kiện không thực hiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, trả lại đơn khởi kiện.

  1. Áp dụng chế định về án phí không đúng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án buộc ông Đỗ Mạnh Hiếu phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, chuyển từ khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007454 ngày 21/3/2019 của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là chưa phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án quy định:

Điều 18. Xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

  1. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyếtvụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sựvà trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có yếtố nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 472 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại điểm b, c, e, d, g và h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.

Theo quy định trên trong trường hợp này người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                             Phòng 10

Rút kinh nghiệm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa do áp dụng pháp luật không đúng

8 Tháng Một, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

 

Thông qua công tác xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý số 04/2019/TLST-HC ngày 03/12/2019 đối với quyết định đình chỉ vụ án hành chính số 02/2019/QĐST-HC ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên có quan điểm như sau:

-Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định người bị kiện không đúng pháp luật.

– Áp dụng chế định về án phí không đúng quy định.

Áp dụng điểm b khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội về án phí,lệ phí Tòa án.

Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định lại người bị kiện, và áp dụng lại chế định về án phí. Hội đồng xét xử đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 NHỮNG NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người bị kiện.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 23/8/2017 ông Đỗ Mạnh Hiếu có đơn tố cáo gửi tới Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên với nội dung: Việc gia đình ông Châu ở số nhà 449/1, đường Cách Mạng Tháng Tám và một số người khác lấn chiếm đất công rãnh thoát nước, dẫn đến việc nước không thoát được đã ngấm vào nhà ông Hiếu gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông Hiếu.

Căn cứ nội dung đơn tố cáo của ông Hiếu, UBND phường Hương Sơn tiến hành tổ chức xác minh, giải quyết đơn tố cáo theo quy định.

Kết quả Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đã ban hành: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017.

Không đồng ý với nội dung bản kết luận số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, ông Hiếu có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu:

– Hủy toàn bộ kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp nhận ngày 18/12/2018.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, TAND thành phố Thái Nguyên có Thông báo số 06/2018 ngày 28/12/2018 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 21/01/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện: là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp tục có Thông báo số 16/2019 ngày 24/01/2019 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 12/02/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung khác vẫn giữ nguyên.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật, xác định người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả giải quyết vụ án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Theo nội dung trên:

Quyết định hành chính bị kiện trong vụ án là: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản do Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên ban hành trên cơ sở kết quả giải quyết đơn tố cáo của công dân Đỗ Mạnh Hiếu, tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc địa bàn UBND phường Hương Sơn quản lý, người có thẩm quyền giải quyết, được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011; và Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

          Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Điều 38. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Căn cứ quy định trên, Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của ông Đỗ Mạnh Hiếu và ban hành kết luận nội dung giải quyết đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định:

9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là không đúng quy định nêu trên.

Cụ thể trong vụ án này, xác định người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người khời kiện yêu cầu Tòa án:

– Hủy văn bản kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

– Xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Xét các yêu cầu của người khởi kiện nhận thấy:

+ Đối với yêu cầu Hủy kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án thể hiện, người khởi kiện ông Đỗ Mạnh Hiếu không đồng ý với nội dung kết luận giải quyết đơn tố cáo của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp

“1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo”.

Căn cứ quy định trên, việc ông Hiếu không đồng ý với kết quả giải quyết  của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đối với nội dung đơn tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của ông, ông có quyền tố cáo tiếp tới Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên giải quyết, theo quy định trên.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.

+ Đối với yêu cầu đề nghị: Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Căn cứ khoản 3; khoản 4 Điều 3 Luật TTHC quy định:

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  1. Hành vi hành chính bị kiệnlà hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định:

“Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”.

Căn cứ quy định trên yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hành chính.

Sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Mạnh Hiếu, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng người khởi kiện không thực hiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, trả lại đơn khởi kiện.

  1. Áp dụng chế định về án phí không đúng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án buộc ông Đỗ Mạnh Hiếu phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, chuyển từ khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007454 ngày 21/3/2019 của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là chưa phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án quy định:

Điều 18. Xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

  1. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyếtvụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sựvà trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có yếtố nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 472 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại điểm b, c, e, d, g và h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.

Theo quy định trên trong trường hợp này người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                             Phòng 10

Page 1 of 41234