Tag Archives: phòng 10

RÚT KINH NGHIỆM Trong việc thực hiện công tác kiểm sát bản án của tòa án cấp sơ thẩm

12 Tháng Năm, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua kiểm sát bản án KDTM sơ thẩm của TAND TP Thái Nguyên, giữa: Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Nhật Minh. VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy VKSND thành phố Thái Nguyên còn một số thiếu sót, vi phạm trong việc gửi bản án cho VKSND tỉnh và thực hiện công tác kiểm sát bản án của Tòa án cùng cấp không phát hiện được vi phạm của Tòa án, cần thiết phải rút kinh nghiệm chung, cụ thể:

  1. Vi phạm thời hạn gửi bản án cho VKSND tỉnh Thái Nguyên không đúng quy định.

Căn cứ vào bản án thể hiện, TAND thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử vụ án vào ngày 06/3/2020, đến ngày 10/4/2020 (sau 01 tháng 04 ngày) VKSND tỉnh Thái Nguyên mới nhận được bản án kèm theo phiếu kiểm sát của VKSND TP Thái Nguyên (theo dấu công văn đến của VKSND tỉnh) khi đã hết thời hạn kháng nghị của VKSND cấp tỉnh.

Như vậy việc kiểm sát thời hạn gửi bản án của Tòa án cùng cấp và gửi bản án sơ thẩm cho VKSND cấp trên trực tiếp của VKSND TP Thái Nguyên như nêu trên là chưa thực hiện đúng quy định tại mục 2.4.1 Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND Tối cao về Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính.

2.4.1. Đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật:

Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm kiểm sát đầy đủ các bản án, quyết định do Tòa án chuyển đến. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (hoặc kể từ ngày nhận được bản án trong trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa), 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm phải sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm kèm theo phiếu kiểm sát cho Viện kiểm sát cấp trên để phối hợp kiểm sát, giải quyết theo thẩm quyền”…

  1. Tòa án ban hành bản án có những vi phạm, cụ thể:

2.1. Vi phạm về hình thức bản án

Tại phần mở đầu của bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên có ghi:

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

– Các hội thẩm nhân dân: ….

– Thư ký phiên Tòa: …..

Không ghi họ, tên của Thẩm phán- Chủ tọa phiên Tòa, nhưng phần cuối của Bản án, mục “Thẩm phán- Chủ tọa phiên Tòa” thì có lại có thẩm phán chủ tọa phiên tòa ký, đóng dấu của TAND TP Thái Nguyên, để ban hành bản án.

Bản án nêu trên của TAND TP Thái Nguyên chưa thực hiện đúng mẫu số 52 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự, có ghi:

“- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(6)

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông (Bà)……………………….……………..

Thẩm phán: Ông (Bà)………………………………………………………………………….

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông (Bà)…………………………………………………………………………………………
  2. Ông (Bà)…………………………………………………………………………………………
  3. Ông (Bà)……………………………………………………………………

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán…”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân”.

Tuy nhiên theo phiếu kiểm sát bản án ngày 03/4/2020 của VKSND TP Thái Nguyên, lại ghi:“Về hình thức bản án đúng theo mẫu số 52 của TAND Tối cao ban hành”.

2.2. Tòa án không quyết định đình chỉ xét xử khi nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện theo quy định.

Tại phần nội dung vụ án trong bản án thể hiện: “Tại phiên Tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với lãi phạt chậm trả đối với bị đơn…”.

Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: “…Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết việc rút một phần yêu cầu về lãi xuất phạt chậm trả của nguyên đơn”

Trong phần nhận xét của bản án sơ thẩm có ghi: HĐXX nhận định “Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu về lãi phạt chậm trả đối với công ty TNHH thương mại Nhật Minh được công ty TNHH thương mại Nhật Minh đồng ý. HĐXX đình chỉ giải quyết việc rút một phần yêu cầu về lãi phạt chậm trả của nguyên đơn”. (Trong bản án không thể hiện Nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn thanh toán khoản tiền lãi phạt chậm trả là bao nhiêu).

Việc nhận định của HĐXX về nội dung nêu trên là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 71; Khoản 2 Điều 244 BLTTDS, đây là một trong những vấn đề HĐXX phải giải quyết trong vụ án và phải được HĐXX quyết định trong bản án.

Tuy nhiên tại phần Quyết định của bản án, Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên lại không quyết định về vấn đề này, đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 266/BLTTDS.

Điều 266. Bản án sơ thẩm

  1. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau:
  2. c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án…”.

Việc HĐXX không quyết định nội dung này trong phần Quyết định của bản án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của đương sự.

Quá trình kiểm sát bản án, Kiểm sát viên cấp sơ thẩm đã không kịp thời phát hiện những thiếu sót, vi phạm của Tòa án để tham mưu cho lãnh đạo thực hiện quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Sau phiên tòa, Kiểm sát viên đã không chú ý kiểm sát việc gửi bản án của Tòa án, không kiểm tra, đôn đốc, yêu cầu Tòa án gửi bản án cho VKSND cùng cấp đúng quy định của pháp luật (Điều 269/BLTTDS) dẫn tới việc gửi bản án cho VKSND tỉnh không đúng quy định, VKSND tỉnh nhận được bản án thì đã hết thời hạn kháng nghị (Điều 280/BLTTDS) nên không thực hiện quyền kháng nghị của VKSND cấp trên trực tiếp.

Lan Anh- Phòng 10

 

ĐẠI HỘI CHI BỘ PHÒNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ, VIỆC LAO ĐỘNG, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

25 Tháng Ba, 2020 Đảng bộ, Đảng đoàn thể

Thực hiện Kế hoạch số 123-KH/ĐUK ngày 02/7/2019; Hướng dẫn số 25-HD/ĐUK ngày 13/11/2019 của Ban thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thái Nguyên về Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025.

Được sự nhất trí của Đảng ủy VKSND tỉnh Thái Nguyên, chiều ngày 23/3/2020, tại Hội trường VKSND tỉnh Thái Nguyên diễn ra Đại hội chi bộ Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc Lao động, kinh doanh, thương mại nhiệm kỳ 2020-2022.

Đến dự  và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh.

3

Đ/c Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Tại Đại hội, đ/c Lê Văn Mạnh thay mặt Đoàn chủ tịch đã thông qua Báo cáo chính trị của Cấp ủy nhiệm kỳ 2017- 2020 trình Đại hội, trong đó đã tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2017 – 2020; báo cáo kiểm điểm của Cấp ủy Chi bộ nhiệm kỳ 2017 – 2020 và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ 2020 -2022.

Trong nhiệm kỳ 2017 – 2020, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy VKSND tỉnh, Cấp ủy Chi bộ cùng với sự cố gắng nỗ lực của từng cán bộ, Đảng viên trong chi bộ, Chi bộ phòng kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc lao động, kinh doanh thương mại đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu công tác. Trong nhiệm kỳ không có Đảng viên vi phạm kỷ luât, các Đảng viên đều hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, tập thể Chi bộ đoàn kết, nhất trí.

4

Đ/c Lê Văn Mạnh – Bí thư Chi bộ phòng KS án hành chính nhiệm kỳ 2017-2020 thông qua báo cáo chính trị.

Phát biểu tại Đại hội đồng chí Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên ghi nhận các kết quả đã đạt được và chỉ ra những tồn tại, hạn chế của Chi bộ trong nhiệm kỳ 2017-2020; đồng thời định hướng cho chi bộ một số nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai thực hiện trong nhiệm kỳ 2020-2022.

5

Đ/c Lý Văn Huấn cùng đại diện Chi bộ chúc mừng 02 đ/c trúng cử Chức danh Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ nhiệm kỳ 2020- 2022

Cũng tại đại hội, các đảng viên trong Chi bộ đã sôi nổi thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến và các dự thảo văn kiện được trình bày tại Đại hội, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Đảng viên và tinh thần dân chủ, sáng tạo. Đại hội đã tín nhiệm bầu đồng chí Lê Văn Mạnh- Trưởng phòng 10 tiếp tục tái cử chức danh Bí thư Chi bộ; bầu đồng chí Đỗ Quang Chung- Phó Trưởng phòng 10 chức danh Phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2020- 2022.

Phát biểu bế mạc Đại hội, đồng chí Bí thư Chi bộ Phòng Kiểm sát giải quyết án hành chính nhiệm kỳ 2020 – 2022 đã tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo của lãnh đạo Đảng ủy, đồng thời thay mặt tập thể đảng viên Chi bộ hứa sẽ quyết tâm phát huy tối đa tinh thần đoàn kết, sáng tạo, hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2020 – 2022.

                                                                          Tin và bài: Lan Anh

RÚT KINH NGHIỆM Rút kinh nghiệm đối với bản án có vi phạm tố tụng hành chính, Bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy.

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân: Năm 1952 bố mẹ ông Cường khai phá được hơn 8.000m2 đất đồi để trồng màu. Năm 1990 gia đình ông Cường đã trồng cây theo dự án PAM để lấy gạo ăn. Năm 1997 ông Lương Văn Cường đã có tên trong sổ giã ngoại tại tờ bản đồ số 66B, diện tích 8.985m2 loại đất rừng, gia đình ông Cường vẫn quản lý và sử dụng đến nay.

Năm 1999 Nhà nước có chủ chương cấp GCNQSD đất do ông Cường không có nhà, UBND xã đã báo con trai là Lương Văn Hà ký thay bố, mẹ để được cấp GCNQSD đất. Ngày 20/12/1999 ông Hà nhận được Quyết định giao đất nông nghiêp số 8195/QĐ-UBND của UBND huyện Đồng Hỷ (nay thuộc thành phố Thái Nguyên) cấp thửa 61a, tờ bản đồ số 7 là 0.28ha và thửa 337a, tờ bản đồ số 8 là 0,32ha. Tổng diện tích đất được cấp 2.800m2 mang tên ông Lương Văn Hà (thiếu so với thực tế trong sổ giã ngoại là 6.185m2), gia đình ông Cường đã nhiều lần làm đơn đề nghị của UBND xã Linh Sơn làm thủ tục cấp GCN.QSDĐ phần đất còn thiếu nhưng UBND không làm thủ tục cấp cho gia đình.

Ngày 16/11/2016, UBND xã Linh Sơn ban hành thông báo số 39/TB-UBND V/v “Trả lời việc cấp GCN.QSDĐ thiếu của gia đình ông Lương văn Cường và bà Đặng Thị Luân” lý do gia đình ông Cường, bà Luân đang tranh chấp với xóm Làng Phan và Phường hiếu xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, nên không đủ điều kiện.

Không đồng ý với văn bản của UBND xã Linh Sơn, ông Cường, bà Luân đã có đơn khởi kiện vụ án hành chính gửi đến Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, đề nghị Tòa án xét xử hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ (nay là thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân. Hủy Quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016.
  2. Kiến nghị UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên xem xét hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân đối với diện tích kê khai còn thiếu tại thử đất số 61, tờ bản đồ số 7, thuộc bản đồ địa chính xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên để đảm bảo quyền lợi của người Sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

Không đồng ý với Quyết định của bản án số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, người bị kiện có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa đã đề nghị: Do quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Kết quả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã chấp nhận, tuyên xử theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Những nội dung cấn rút kinh nghiệm: 

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm sau:

1.Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng:

1.1.Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện tham gia tố tụng không đúng quy định của pháp luật.

Việc xác định ai là người bị kiện thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan tổ chức thì phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

Trong vụ án này, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016. Theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.

Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện trong vụ án là: Chủ tịch UBND xã Linh Sơn là không đúng quy định tại khoản 9 Điều 3 của luật tố tụng hành chính, quy định:

9. Người bị kiện là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

1.2. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định và không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Kết quả xác định hiện trạng sử dụng đất của UBND xã và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện trên diện tích, thửa đất hộ gia đình công Cường, bà Luân xin cấp GCNQSD đất có khoảng 37 ngôi mộ chôn người chết (theo tài liệu của UBND xã), có hơn 20 ngôi mộ chôn người chết (Theo tài liệu thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm), của nhân dân xóm Làng Phan chôn rải rác. Khi hộ ông Cường, bà Luân có đơn xin cấp quyền sử dụng đất, ông Lương Văn Tứ (Trưởng xóm) đại diện cho công đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng vị trí thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất là đất Nghĩa trang của nhân dân xóm Làng Phan, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền làm thủ tục giao thửa đất cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan để làm nghĩa trang chôn người chết sau khi qua đời.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những hộ gia đình có các ngôi mộ trên thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất và cộng đồng dân cư xóm Làng Phan vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Khoản 10 Điều 3 LTTHC quy định:

10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Vi phạm về hoạt động tố tụng và việc xác minh, thu thập chứng cứ.

– Sau khi nhận được hồ sơ vụ án theo quyết định chuyển vụ án của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án số 05/2017/TLST-HC, tuy nhiên tại các văn bản tố tụng sau này và Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Bản án đều xác định là vụ án thụ lý số 06/TLST-HC là không chính xác;

– Ngày 18/12/2017 Tòa án ND thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án; đến ngày 11/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có quyết định phân công kiểm sát viên tham gia phiên tòa là không tuân thủ theo khoản 1 Điều 24 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016, quy định:

“Điều 24. Thông báo Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp

  1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 126 và khoản 1 Điều 217 Luật TTHC,Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa”.

– Ngày 25/3/2019 HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ, tuy nhiên Tòa án chưa tiến hành xác minh thu thập được các tài liệu chứng cứ để khắc phục được lý do tạm ngừng phiên tòa, nhưng lại mở lại phiên tòa và xét xử vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 187 của Luật tố tụng hành chính.

– Nhiều tài liệu có trong hồ sơ vụ án là bản phô tô không được công chứng, chứng thực theo quy định, nhưng Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung hoặc đối chiếu tính xác thực của tài liệu phô tô để sử dụng làm chứng cứ trong vụ án. Khi thu thập chứng cứ Tòa án không lập biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ theo quy định tại Điều 83 của Luật tố tụng hành chính nên không xác định được tài liệu của ai, do ai cung cấp. Sau khi thu thập tài liệu chứng cứ Tòa án không thông báo cho các đương sự về việc thu thập tài liệu chứng cứ để các đương sự thực hiện quyền nghĩa vụ của mình; không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ là vi phạm Điều 4, Điều 98, Điều 138 của Luật tố tụng hành chính.

– Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh, thu thập lời khai của những người là cộng đồng dân cư xóm Làng Phan, của anh Lương Văn Hà  nhưng không  xác định tư cách tố tụng hoặc đưa họ vào tham gia tố tụng của vụ án.

– Khi ông Cường, bà Luân kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 61-TBĐ số 7, ông cho rằng đó là đất của gia đình mình sử dụng vào việc trồng rừng từ những năm 1990, nhưng trên thực tế trên phần diện tích đất này còn có nhiều ngôi mộ và đã được cộng đồng dân cứ xóm Làng Phan sử dụng vào việc chôn cất người chết sau khi qua đời từ năm 1990, ông Lương Văn Tứ đại diện cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng đó là đất nghĩa trang xóm Làng Phan, nhưng Tòa án không tiến hành xác minh, thu thập các thông tin về thửa đất, số lượng cụ thể là bao nhiêu ngôi mộ, cụ thể thân nhân chủ của các ngôi mộ; các tài liệu, chứng cứ và quy định của UBND tỉnh Thái Nguyên trong việc ban hành quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang theo Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/6/2016 của Chính phủ là có nhiều thiếu sót trong việc điều tra, thu thập chứng cứ. Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, không có cơ sở để đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện trong vụ án.

  1. Về việc nhận định, đánh giá và áp dụng pháp của bản án sơ thẩm không phù hợp khách quan:

Tòa án cấp sơ thẩm viện dẫn lý do: “ Tại Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn đã xác định rõ việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Cường, bà Luân vì lý do đất đang có tranh chấp với hội phường hiếu xóm Làng Phan” , là không chính xác, không phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Tòa án không xem xét, đánh giá cộng đồng dân cư xóm Làng phan và phường họ Hiếu xóm Làng Phan có phải là chủ thể có quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5 Luật đất đai năm 2013 hay không?;  Có phải là chủ thể tranh chấp đất đai với gia đình ông Cường hay không mà kết luận: “UBND xã Linh Sơn xác định tranh chấp giữa hộ gia đình ông Cường, bà Luân với phường hiếu xóm Làng Phan là căn cứ duy nhất để ban hành thông báo số 39/TB-UBND” là không khách quan, toàn diện.

Đáng lẽ ra, khi xem xét nội dung này ngoài việc phân tích, áp dụng quy định tại Điều 74, Điều 75 của Bộ luật dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét đánh giá và áp dụng khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm 2013 để xác định chủ thể có quyền được sử dụng đất, đồng thời phân tích đánh giá xem có việc tranh chấp hay không?. Ai là người tranh chấp với ông Cường, bà Luân khi kê khai xin cấp giấy chứng nhận thì mới đảm bảo cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan toàn diện.

– Sau khi Tòa án ND huyện Đồng Hỷ thụ lý vụ án tại thông báo thụ lý số 02/TLST-HC ngày 27/02/2017, UBND xã Linh Sơn có văn bản số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 về việc: “Thông báo trả lời đơn xin cấp GCNQSD đất thiếu của gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân..”. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016, nhưng không xem xét và giải quyết đối với Thông báo số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 của UBND xã Linh Sơn, là chưa giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, vi phạm điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Việc áp dụng pháp luật nội dung: Tòa án không đánh giá phân tích tài liệu, chứng cứ và áp dụng pháp luật nội dung là Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà chỉ áp dụng Bộ luật dân sự loại trừ chủ thể sử dụng đất là thiếu sót.

– Trường hợp HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy quyết định hành chính bị khởi kiện thì buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; Đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy. Nhưng bản án lại kiến nghị UBND xã Linh Sơn xem xét, hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân là vi phạm khoản 1 Điều 6, khoản 3 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Khi giải quyết về phần án phí Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội là không phù hợp.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, nên tại bản án số 01/2019/HC-PT ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu lên để rút kinh nghiệm chung.

                                                                                       Phòng 10

Rút kinh nghiệm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa do áp dụng pháp luật không đúng

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

 

Thông qua công tác xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý số 04/2019/TLST-HC ngày 03/12/2019 đối với  quyết định đình chỉ vụ án hành chính số 02/2019/QĐST-HC ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên có quan điểm như sau:

          – Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định người bị kiện không đúng pháp luật.

          – Áp dụng chế định về án phí không đúng quy định.

Áp dụng điểm b khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định lại người bị kiện, và áp dụng lại chế định về án phí. Hội đồng xét xử đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 NHỮNG NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người bị kiện.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 23/8/2017 ông Đỗ Mạnh Hiếu có đơn tố cáo gửi tới Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên với nội dung: Việc gia đình ông Châu ở số nhà 449/1, đường Cách Mạng Tháng Tám và một số người khác lấn chiếm đất cống rãnh thoát nước, dẫn đến việc nước không thoát được đã ngấm vào nhà ông Hiếu gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông Hiếu.

Căn cứ nội dung đơn tố cáo của ông Hiếu, UBND phường Hương Sơn tiến hành tổ chức xác minh, giải quyết đơn tố cáo theo quy định.

Kết quả Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đã ban hành: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017.

Không đồng ý với nội dung bản kết luận số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, ông Hiếu có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu:

– Hủy toàn bộ kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp nhận ngày 18/12/2018.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, TAND thành phố Thái Nguyên có Thông báo số 06/2018 ngày 28/12/2018 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 21/01/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện: là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp tục có Thông báo số 16/2019 ngày 24/01/2019 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 12/02/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung khác vẫn giữ nguyên.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật, xác định người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả giải quyết vụ án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Theo nội dung trên:

Quyết định hành chính bị kiện trong vụ án là: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản do Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên ban hành trên cơ sở kết quả giải quyết đơn tố cáo của công dân Đỗ Mạnh Hiếu, tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc địa bàn UBND phường Hương Sơn quản lý, người có thẩm quyền giải quyết, được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011; và Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

          Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Điều 38. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Căn cứ quy định trên, Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của ông Đỗ Mạnh Hiếu và ban hành kết luận nội dung giải quyết đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định:

9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là không đúng quy định nêu trên.

Cụ thể trong vụ án này, xác định người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người khời kiện yêu cầu Tòa án:

– Hủy văn bản kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

– Xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Xét các yêu cầu của người khởi kiện nhận thấy:

+ Đối với yêu cầu Hủy kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án thể hiện, người khởi kiện ông Đỗ Mạnh Hiếu không đồng ý với nội dung kết luận giải quyết đơn tố cáo của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp

“1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo”.

Căn cứ quy định trên, việc ông Hiếu không đồng ý với kết quả giải quyết  của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đối với nội dung đơn tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của ông, ông có quyền tố cáo tiếp tới Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên giải quyết, theo quy định trên.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.

+Đối với yêu cầu đề nghị: Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Căn cứ khoản 3; khoản 4 Điều 3 Luật TTHC quy định:

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  1. Hành vi hành chính bị kiệnlà hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định:

“Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”.

Căn cứ quy định trên yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hành chính.

Sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Mạnh Hiếu, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng người khởi kiện không thực hiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, trả lại đơn khởi kiện.

  1. Áp dụng chế định về án phí không đúng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án buộc ông Đỗ Mạnh Hiếu phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, chuyển từ khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007454 ngày 21/3/2019 của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là chưa phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án quy định:

Điều 18. Xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

  1. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyếtvụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sựvà trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có yếtố nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 472 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại điểm b, c, e, d, g và h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.

Theo quy định trên trong trường hợp này người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                             Phòng 10

Rút kinh nghiệm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa do áp dụng pháp luật không đúng

8 Tháng Một, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

 

Thông qua công tác xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý số 04/2019/TLST-HC ngày 03/12/2019 đối với quyết định đình chỉ vụ án hành chính số 02/2019/QĐST-HC ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên có quan điểm như sau:

-Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định người bị kiện không đúng pháp luật.

– Áp dụng chế định về án phí không đúng quy định.

Áp dụng điểm b khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội về án phí,lệ phí Tòa án.

Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định lại người bị kiện, và áp dụng lại chế định về án phí. Hội đồng xét xử đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 NHỮNG NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người bị kiện.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 23/8/2017 ông Đỗ Mạnh Hiếu có đơn tố cáo gửi tới Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên với nội dung: Việc gia đình ông Châu ở số nhà 449/1, đường Cách Mạng Tháng Tám và một số người khác lấn chiếm đất công rãnh thoát nước, dẫn đến việc nước không thoát được đã ngấm vào nhà ông Hiếu gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông Hiếu.

Căn cứ nội dung đơn tố cáo của ông Hiếu, UBND phường Hương Sơn tiến hành tổ chức xác minh, giải quyết đơn tố cáo theo quy định.

Kết quả Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đã ban hành: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017.

Không đồng ý với nội dung bản kết luận số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, ông Hiếu có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu:

– Hủy toàn bộ kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp nhận ngày 18/12/2018.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, TAND thành phố Thái Nguyên có Thông báo số 06/2018 ngày 28/12/2018 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 21/01/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện: là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp tục có Thông báo số 16/2019 ngày 24/01/2019 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 12/02/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung khác vẫn giữ nguyên.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật, xác định người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả giải quyết vụ án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Theo nội dung trên:

Quyết định hành chính bị kiện trong vụ án là: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản do Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên ban hành trên cơ sở kết quả giải quyết đơn tố cáo của công dân Đỗ Mạnh Hiếu, tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc địa bàn UBND phường Hương Sơn quản lý, người có thẩm quyền giải quyết, được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011; và Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

          Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Điều 38. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Căn cứ quy định trên, Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của ông Đỗ Mạnh Hiếu và ban hành kết luận nội dung giải quyết đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định:

9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là không đúng quy định nêu trên.

Cụ thể trong vụ án này, xác định người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người khời kiện yêu cầu Tòa án:

– Hủy văn bản kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

– Xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Xét các yêu cầu của người khởi kiện nhận thấy:

+ Đối với yêu cầu Hủy kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án thể hiện, người khởi kiện ông Đỗ Mạnh Hiếu không đồng ý với nội dung kết luận giải quyết đơn tố cáo của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp

“1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo”.

Căn cứ quy định trên, việc ông Hiếu không đồng ý với kết quả giải quyết  của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đối với nội dung đơn tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của ông, ông có quyền tố cáo tiếp tới Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên giải quyết, theo quy định trên.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.

+ Đối với yêu cầu đề nghị: Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Căn cứ khoản 3; khoản 4 Điều 3 Luật TTHC quy định:

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  1. Hành vi hành chính bị kiệnlà hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định:

“Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”.

Căn cứ quy định trên yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hành chính.

Sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Mạnh Hiếu, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng người khởi kiện không thực hiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, trả lại đơn khởi kiện.

  1. Áp dụng chế định về án phí không đúng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án buộc ông Đỗ Mạnh Hiếu phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, chuyển từ khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007454 ngày 21/3/2019 của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là chưa phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án quy định:

Điều 18. Xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

  1. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyếtvụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sựvà trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có yếtố nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 472 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại điểm b, c, e, d, g và h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.

Theo quy định trên trong trường hợp này người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                             Phòng 10

Tấm gương sáng trong sự nghiệp xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân

13 Tháng Mười, 2019 GIẢI BÁO CHÍ TOÀN QUỐC BÚA LIỀM VÀNG

Bằng tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với ngành với nghề, đồng chí Lê Văn Mạnh, Trưởng phòng 10- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều hoạt động và sáng kiến trong công tác nghiệp vụ cũng như công tác quản lý, điều hành. Quan trọng hơn đó chính là tinh thần không ngừng rèn luyện, học hỏi, cách làm việc khoa học và áp dụng công nghệ thông tin trong công tác, cùng lối sống gần gũi, giản dị, đồng chí đã trở thành tấm gương sáng trong việc xây dựng hình ảnh người kiểm sát nhân dân “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”, xứng đáng để cán bộ, công chức ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu gương.

Sinh ra và lớn lên ở quê hương Nam Định, nơi sinh ra những người con ưu tú, bản thân gia đình giàu truyền thống cách mạng, có nhiều cống hiến, hy sinh cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, đồng chí Lê Văn Mạnh cũng góp sức trẻ cho quê hương đất nước. Năm 1978 sau khi học xong cấp III tại trường cấp 3 Xuân Trường, Nam Định, Theo tiếng gọi của Tổ Quốc đồng chí Lê Văn Mạnh xung phong đi bộ đội bảo vệ biên giới phia Bắc, đóng quân tại Cao Bằng. Trong thời gian trong quân đội, đồng chí vẫn tiếp tục học hỏi nghiên cứu ôn thi Đại học, đến năm 1984 đồng chí Mạnh thi đỗ trường Đại Học Pháp Lý ( nay là trường Đại Học Luật Hà Nội). Trong thời gian miệt mài sách vở tại trường Đại Học, đồng chí Lê Văn Mạnh vẫn luôn ý thức được việc phải luôn rèn luyện và phấn đấu, tu dưỡng bản thân như trong thời gian đi bộ đội, cống hiến hết mình để luôn kế thừa, phát huy truyền thống cách mạng và những hy sinh, cống hiến cho đất nước của thế hệ cha ông. Năm 1988 đồng chí tốt nghiệp ra trường, xung phong lên vùng đất chè của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên công tác và làm việc tại VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đến năm 2010, đồng chí Mạnh được phân công công tác tại phòng 5- VKSND tỉnh Thái Nguyên (nay là phòng 9) đến năm 2013 đồng chí được sự quan tâm tín nhiệm và tin tưởng của lãnh đạo VKSND tỉnh Thái Nguyên, bổ nhiệm đồng chí giữ chức Phó Trưởng phòng 10, (Phòng kiểm sát án hành chính, kinh tế, lao động) cho đến nay. Mặc dù vào ngành Kiểm sát và bố trí công tác tại nhiều đơn vị và phòng khác như nhưng dù ở cương vị nào, đơn vị nào, đồng chí luôn nhận thức được vinh dự và trách nhiệm của người cán bộ ngành Kiểm sát nên đã không ngừng học tập, rèn luyện khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Gần40 năm công tác và cống hiến cho ngành Kiểm sát, trải qua nhiều vị trí, chức vụ khác nhau nhưng ở bất kỳ vị trí công việc nào đồng chí cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, được ban Lãnh đạo, cán bộ, kiểm sát viên trong đơn vị tín nhiệm.

Tháng 7/2014 đồng chí Lê Văn Mạnh được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng kiểm sát hành chính, kinh tế, lao động của VKSND tỉnh Thái Nguyên. Với cương vị trưởng phòng, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và tập thể phòng 10 cũng như cá nhân phòng có nhiều bước tiến bộ và phát triển nhanh chóng với  02 năm đạt cờ thi đua ngành và cờ thi đua dẫn đầu khối ngành Kiểm sát nhân dân; hai năm liên tiếp được tặng bằng khen vì tập thể đạt lao động xuất sắc, năm 2019 phòng được VKSND tối cao tặng bằng khen đột xuất vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác. Bản thân cá nhân đồng chí đạt nhiều thành tích: Chiến sỹ thi đua Ngành, được tối cao tặng bằng khen trong các đợt thi đua ngắn hạn, dài hạn, năm 2019 được tối cao tặng Bằng khen đột xuất vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác. Trong thời gian công tác dù bất cứ ở cương vị nào, đơn vị nào đồng chí không để xảy ra oan, sai; công tác chuyên môn có nhiều đổi mới, nhất là công tác án hành chính kinh tế lao động và pháp lệnh cai nghiện 09/2013. Hàng năm đồng chí luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm đáp ứng yêu cầu chính trị địa phương và của Ngành; xây dựng Chi bộ 8- VKSND tỉnh Thái Nguyên là Chi bộ trong sạch, vững mạnh nhiều năm liền, tổ công đoàn  vững mạnh và đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Thực hiện theo lời dạy của Bác đối với cán bộ Kiểm sát “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng và Khiêm tốn”, gắn với việc thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” đồng chí luôn tâm huyết xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành kiểm sát tận tuỵ, có chuyên môn vững vàng phục vụ nhân dân và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Là một người lãnh đạo luôn tâm huyết và hết mình cho công tác xây dựng ngành, đồng chí luôn nhấn mạnh việc thực hiện công tác tuyên truyền trong ngành kiểm sát là công tác quan trọng giúp hình ảnh người cán bộ kiểm sát trong sự nghiệp đổi mới, góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Thông qua các bài báo rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát, xét xử án hành chính, kinh tế, lao động và cá việc khác theo quy định của pháp luật. Luôn nêu cao tinh thần lá lành đùm lá rách, đi đầu trong các  hoạt động tuyên truyền, ủng hộ các quỹ từ do ngành, tổ chức phát động. Qua đó góp phần tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện công tác tuyên truyền của ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, giúp hình ảnh người cán bộ kiểm sát gần dân và tạo lòng tin trong nhân dân.

28

27

Một số hình ảnh về đồng chí Lê Văn Mạnh

Là một người có lối sống gần gũi, giản dị và được nhiều đồng nghiệp yêu mến, với cương vị trưởng phòng, đồng chí luôn quan tâm đến đời sống của cán bộ kiểm sát viên trong phòng, nhất là những đồng chí có hoàn cảnh ốm đau, cuộc sống có nhiều khó khăn thông qua các buổi thăm hỏi tặng quà, hỗ trợ giúp các đồng nghiệp khắc phục khó khăn yên tâm công tác, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trong cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” đồng chí Lê Văn Mạnh như ngọn lửa thắp sáng niềm tin tiếp sức cho cán bộ, công chức tiếp tục thực hiện mơ ước, hoài bão của mình là góp một phần công sức xây dựng ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên vững mạnh. Những đóng góp và tâm huyết của đồng chí được đồng nghiệp trân trọng và xem đồng chí như một người thầy đáng kính, là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo, tiếp bước xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ngày càng phát triển./.

                                                                        Tin bài: Phòng 10

KIẾN NGHỊ: Đối với Chủ tịch UBND huyện Đại Từ về tăng cường công tác lãnh đạo, Chỉ đạo thực hiện việc lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng Biện pháp xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt Buộc trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

25 Tháng Bảy, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện chức năng công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 4 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 13 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân do VKSND huyện Đại Từ chuyển đến theo quy chế và qua công tác nắm số liệu của các cơ quan chuyên môn về công tác quản lý, xử lý đối với người nghiện ma túy trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy:

Thời gian từ ngày 30/12/2018 đến 30/6/2019 công tác kiểm sát xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có kết quả như sau:

1.Quy định chung:

Ngày 20/01/2014, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014, quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.(Gọi tắt Pháp lệnh số 09).

Chính phủ đã ban hành:

– Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn: (Gọi tắt Nghị số 111).

-Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Gọi tắt Nghị số 221).

-Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. (Gọi tắt Nghị số 136).

Các cơ quan bộ, ngang bộ, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện:

-Thông tư liên bộ số 17/2015/TTLN-BYT-BLĐTB&XH-BCA ngày 09/7/2015  của liên bộ: Bộ Y tế; Bộ Lao động TB & Xã hội; Bộ Công an quy định thẩm quyền, thủ tục quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy. (Gọi tắt là Thông tư liên bộ số 17).

– Thông tư số 19/2015/TT-BTP ngày 28/12/2015 của Bộ Tư pháp, về quy định việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơđề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Gọi tắt là Thông tư số 19).

-Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/6/2014 của Bộ Lao động, thương binh & xã hội, ban hành biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Gọi tắt là Thông tư số 14).

-Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 về quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.(Gọi tắt thông tư số 05).

– Quyết định số 3752/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc thống nhất thực hiện quy trình, biểu mẫu lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. (Gọi tắt quyết định số 3752).

Các văn bản quy phạm pháp luật đã được các cấp ban hành quy định, hướng dẫn từng bước hoàn thiện thể chế hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện các quy định về lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Toà án nhân dân.

Theo quy định của pháp luật:

– Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Công an cấp xã tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã thu thập tài liệu;

– Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy là bác sỹ, Y sỹ thuộc trạm Y tế cấp xã, bệnh viện cấp huyện…;

-Thẩm quyền kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị là trưởng phòng Tư pháp cấp huyện;

-Thẩm quyền đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội cấp huyện;

– Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân;

-Thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cơ quan Tòa án nhân dân nơi cơ quan đề nghị có trụ sở.

2.Tình hình quản lý, xử lý đối với người nghiện ma túy trên địa bàn huyện Đại Từ thời điểm từ ngày 01/12/2018 đến 30/6/2019.

Theo số liệu VKSND tỉnh Thái Nguyên thu thập hiện trên địa bàn huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên hiện có 668 người nghiện ma túy trong diện quản lý theo quy định, số người nghiện cai nghiện tự nguyện tại trung tâm cai nghiện 06 của huyện có50 người.

Trong những năm qua, từ khi thực hiện Pháp lệnh số 09, các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện Đại Từ đã tích cực thực hiện quản lý, xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, cai nghiện tại cộng đồng; lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ bản thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trong thời điểm từ 01/12/2018 đến 30/6/2019 các cơ quan chuyên môn đã lập hồ sơ đề nghị và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được: 35 hồ sơ; đã giải quyết: 35, trong đó áp dụng BPXLHC: 33 người; Đình chỉ xem xét, quyết định: 02 người (lý do phạm tội mới).

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tại Tòa án cấp tỉnh; Kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do VKSND huyện Đại Từ chuyển đến theo quy chế, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy.

Việc lập hồ sơ đề nghị, việc thực hiện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của các cơ quan có liên quan còn những tồn tại, thiếu sót như sau:

2.1.Việc lập hồ sơ đề nghị, việc xem xét, quyêt định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không tuân thủ quy định.

Đối với hồ sơ người bị đề nghị:

Họ và tên: Lê Văn Minh – SN 1983.Trú tại: Xóm Rộc Mán, xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, tại quyết định số 12/ QĐ-TA ngày 29/3/2019.

Sau phiên họp, người bị đề nghị Lê Văn Minh có đơn khiếu nại, lý do: Không được Công an xã Đức Lương và trạm Y tế xã lấy nước tiểu để tiến hành xét nghiệm như tài liệu có trong hồ sơ, nên khiếu nại đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý vụ việc, ngày 06/6/2019 tiến hành mở phiên họp giải quyết khiếu nại của người bị đề nghị theo quy định.

Tại phiên họp Đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên có văn bản số 90/LĐTBXH ngày 24/5/2019 về việc rút đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh.

Căn cứ vào đề nghị của cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

– Chấp nhận đơn khiếu nại của người bị đề nghị Lê Văn Minh.

– Hủy quyết định số 12/ QĐ-TA ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Minh.

-Đình chỉ việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Minh.

Qua công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, xét thấy việc lập hồ sơ đề nghị, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh, có những tồn tại, sai phạm như sau:

+Lê Văn Minh là đối tượng nghiện ma túy, đang chấp hành quyết định số 192/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của Chủ tịch UBND xã Đức Lương, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy.

Tại biên bản xét nghiệm ma túy do Công an xã Đức Lương lập hồi 8 h 00 ngày 21/02/2019 tại UBND xã Đức Lương, huyện Đại Từ, Thái Nguyên, đối với Lê Văn Minh với thành phần:

-Ông Hoàng Văn Trung- chức vụ Trưởng Công an xã Đức Lương.

-Ông Lâm Văn Hiếu      – chức vụ Cán bộ CA huyện Đại Từ.

-Bà Đỗ Thị Bình            –  (không ghi chức danh, chức vụ)

-Ông Nguyễn Văn Học  – chức vụ Bí thư Đoàn thanh niên xã.

Hình thức, dụng cụ kiểm tra: Xét nghiệm nước tiểu.

Kết quả xét nghiệm trên que thử xuất hiện 01 vạch đỏ, dương tính với chất ma túy hê rô in.

Kết luận: Đối tượng Minh sử dụng trái phép chất ma túy.

(Các thành phần có trong biên bản ký tên, xác nhận).

Dưới biên bản: Đại diện trạm y tế xã Đức lương ký tên bà Đỗ Thị Bình. (Không ghi chức vụ chuyên môn, bằng cấp chuyên ngành y).

Việc ký tên đại diện của trạm Y tế  xã Đức Lương nêu trên không thể hiện chức vụ chuyên môn, bằng cấp chuyên ngành y của người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy quy định tại Điểm 3 Nghị định số136 quy định:

  1. Khoản 1 Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sĩ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điu trị ct cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tchức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại: Các cơ sở y tế quân y trạm y tế xã, phường, thị trấn”.

+Tại văn bản số 03/ĐN-CA ngày 21/02/2019 của Công an xã Đức Lương, về việc đề nghị Trạm Y tế xã Đức Lương xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Văn Minh.

Nhưng theo biên bản xét nghiệm ma túy địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Văn Minh được tiến hành tại UBND xã Đức Lương. Như vậy Trạm Y tế xã Đức Lương không tiếp nhận đối tượng Lê Văn Minh và không tiến hành thủ tục, quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy tại Trạm Y tế theo đề nghị của Công an xã Đức Lương, là không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số17 quy định:

« Điều 5. Quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy trình sau:

  1. Tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy và tài liệu quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này ».

Theo công văn báo cáo số 31/BC-UB ngày 23/5/2019 của Chủ tịch UBND xã Đức Lương, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên, về việc rút hồ sơ cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Minh, lý do quy trình lập hồ sơ chưa đúng quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy quy định tại Thông tư số 17 – nhưng thực chất Công an xã, Trạm Y tế xã Đức Lương không tiến hành lấy nước tiểu để xét nghiệm, là lập khống, giả mạo biên bản xét nghiệm ma túy – vi phạm vào khoản 3 Điều 6 Nghị định số 221, quy định:

Điều 6. Những hành vi bị nghiêm cấm trong việc lập hồ sơ đề nghvà thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  1. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ….”

+Căn cứ vào các tài liệu: Biên bản xét nghiệm ma túy do Công an xã Đức Lương lập hồi 8 h 00 ngày 21/02/2019 kết luận Lê Văn Minh có sử dụng chất ma túy; Bản tường trình ngày 21/02/2019 Lê Văn Minh có thừa nhận sử dụng chất ma túy. Như vậy có đủ căn cứ xác định Lê Văn Minh có hành vi vi phạm hành chính để lập biên bản vi phạm hành chính.

Đến ngày 25/02/2019 Công an xã Đức Lương mới lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Văn Minh, sau 04 ngày kể từ ngày lập biên bản xét nghiệm ma túy ( là trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ) và từ ngày Lê Văn Minh tự nhận sử dụng trái phép chất ma túy, là không tuân thủ pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính.

“Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

  1. Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm”.

Tuy nhiên hồ sơ đề nghị vẫn được lập theo trình tự, thủ tục.

-Chủ tịch UBND xã Đức Lương có văn bản số 22/UBND ngày 04/3/2019 đề nghị Trưởng phòng Tư pháp huyện Đại Từ thẩm định, kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị.

-Trưởng phòng Tư pháp huyện Đại từ có văn bản số 10/TB-TP ngày 07/3/2019 về kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị, kết luận: Hồ sơ đảm bảo tính pháp lý.

-Trưởng phòng Lao dộng thương binh và xã hội huyện Đại từ có văn bản số 46/CV-LĐTBXH ngày 12/3/2019 đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Minh thời hạn từ 15-18 tháng.

-Ngày 29/3/2019 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ thụ lý tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh.

Tại phiên họp người bị đề nghị Lê Văn Minh xác nhận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc như biên bản xét nghiệm ma túy; Bản tường trình; Biên bản vi phạm hành chính do Công an xã Đức Lương lập, Lê Văn Minh được ký tên, xác nhận nội dung các tài liệu; Có được đọc hồ sơ đề nghị không có ý kiến khiếu nại, nhưng xác định bản thân không nghiện ma túy; Ngày 21/02/2019 không được Công an xã, trạm Y tế xã Đức Lương lấy nước tiểu xét nghiệm xác định nghiện ma túy theo quy định.

Lời trình bày của người bị đề nghị có mâu thuẫn với các tài liệu do Công an xã Đức lương lập hồ sơ đề nghị, không thể giải quyết được tại phiên họp. Theo quy định phiên họp phải được dừng để yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh số  09 quy định:

“Điều 14. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ

  1. Thẩm phán yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ trong các trường hợp sau đây:
  2. a) Khi tài liệu chứng minh hành vi vi phạm của người bị đề nghị, tài liệu về nhân thân, tình trạng sức khỏe của người bị đề nghị chưa rõ hoặc có mâu thuẫn mà không thể bổ sung, làm rõ tại phiên họp”.

Tòa án nhân dân huyện Đại từ ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 12/ QĐ-TA ngày 29/3/2019, đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh, với thời hạn 15 tháng, người bị đề nghị có đơn khiếu nại.

Căn cứ nội dung đơn khiếu nại, kết quả diễn biến tại phiên họp xem xét, quyết định, ngày 22/5/2019 cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại từ tiến hành xác minh, thẩm tra trình tự, thủ tục lâp hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh tại UBND xã Đức Lương, kết quả xác định: Công an xã Đức Lương không tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Lê Văn Minh theo quy định, chỉ căn cứ vào lời khai để lập biên bản xét nghiệm, biên bản vi phạm hành chính.

Nên ngày 23/5/2019 Chủ tịch UBND xã Đức Lương có văn bản số 31/BC-UB về việc đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại từ rút hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Minh, lý do quy trình lập hồ sơ chưa đúng quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại Thông tư số 17.

Cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên có văn bản số 90/LĐTBXH ngày 24/5/2019 về việc rút đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh, lý do việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Văn Minh là không có cơ sở và chưa bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật.

Kết quả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định giải quyết khiếu nại đối với người bị đề nghị như đã nêu trên.

2.2.Việc lập hồ sơ đề nghị, việc xem xét, quyêt định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không đúng đối tượng.

Hồ sơ đối với người bị đề nghị:

Họ và tên: Hoàng Đình Hình – sinh ngày 27/7/1991.

Nơi ĐKNKTT: Thôn Đồng Đài, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc thể hiện:

+Hồi 08h 30’ ngày 02/02/2019 Tại UBND xã Yên Lãng, Công an xã; Trạm Y tế xã lập biên bản kiểm tra, xét nghiệm ma túy đối với Hoàng Đình Hình, kết quả: Xuất hiện 01 vạch màu đỏ; kết luận Hoàng Văn Hình có sử dụng trái phép chất ma túy.

+Ngày 02/02/2019 Trạm Y Tế xã Yên Lãng có phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy, xác định Hoàng Đình Hình có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: hê rô in.

+Ngày 02/02/2019 Hoàng Đình Hình có bản tường trình, xác nhận có sử dụng ma túy, lần sử dụng gần nhất là ngày 01/02/2019.

+Hồi 08h45’ ngày 02/02/2019 Công an xã Yên Lãng lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hoàng Đình Hình. Cùng ngày Công an xã Yên Lãng ban hành Thông báo số 01/TB-CA về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình.

+Công an xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang có phiếu trả lời xác minh số 01 ngày 02/02/2019 xác định Hoàng Đình Hình: Không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên đi vắng mặt khỏi địa phương, không biết đi đâu, làm gì.

+Chủ tịch UBND xã Yên Lãng có văn bản số 01/UBND ngày 02/02/2019 về việc đề nghị Trưởng phòng Tư pháp huyện Đại Từ kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình.

+Trưởng Phòng Tư pháp huyện Đại Từ có thông báo số 06/ TB-TP ngày 15/02/2019 về kết quả kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, kết quả: Về thời hiệu áp dụng phù hợp; Về đối tượng áp dụng phù hợp…

+Trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại Từ có văn bản số 27/CV-LĐTBXH ngày 18/02/2019 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình với thời hạn từ 15-18 tháng.

+Tòa án ND huyện Đại Từ có thông báo số 08/TB-TLHS ngày 20/02/2019 về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hoàng Đình Hình.

+Tại quyết định số 07/2019 ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình, thời hạn 15 tháng.

Căn cứ nội dung các tài liệu nêu trên, trong 01(một) ngày 02/02/2019 Công an xã Yên Lãng đã tham mưu cho Chủ tịch UBND xã Yên Lãng thu thập xong tài liệu lập hồ sơ đề nghị đối với Hoàng Đình Hình, là người không có nơi cư trú ổn định, đã xác định đầy đủ thủ tục, đề nghị Chủ tịch UBND xã có văn bản đề nghị Trưởng phòng Tư pháp huyện Đại Từ kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc nêu trên, nhận thấy:

-Biên bản kiểm tra, xét nghiệm ma túy đối với Hoàng Đình Hình, được lập tại UBND xã Yên Lãng, như vậy việc xét nghiệm chất ma túy không được tiến hành tại trạm Y tế xã, là chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 17.

Người bị đề nghị là Hoàng Đình Hình – thuộc đối tượng không có nơi cư trú ổn định. Hồ sơ thể hiện Hình chưa bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy ; Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy từ 02 lần trở lên (Chưa được xóa tiền sự). Công an xã Yên Lãng lập hồ sơ đề nghị chỉ căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy và thông báo xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã (cùng ngày 02/02/2019), không tiến hành thủ tục theo dõi xác định tình trạng nghiện ma túy nhóm Opiats (các chất dạng thuốc phiện) theo quy định, đã kết luận người bị đề nghị Hoàng Đình Hình nghiện ma túy là không có căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tích số 17.

Điều 5 Thông tư liên tịch số 17 quy định.

« Điều 5. Quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy trình sau:

  1. Tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy và tài liệu quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này.
  2. Tiến hành ngay việc xác định tình trạng nghiện ma túy
  3. a) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy nhóm Opiats

Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về nghiện ma túy;

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên;

– Kết quả áp dụng nghiệm pháp Naloxone dương tính (+);

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

 

PHỤ LỤC SỐ 1

   (Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 17)

Bộ…………….                                        PHIẾU THEO DÕI

Sở…………….              Về xác định tình trạng nghiện ma túy nhóm Opiats

Tên cơ sở…….                                    (Các chất dạng thuốc phiện)

 

Họ tên:………………………………………………………………………………..

Địa chỉ………………………………………………………………………….

Do Công an…………………. giờ… ngày… tháng … năm … tiếp nhận theo dõi.

Số TT Các triệu chứng của trạng thái cai Ngày thứ nhất Ngày thứ 2 Ngày thứ

 3

1 Cảm giác thèm chất ma túy      
2 Ngạt mũi hoặc hắt hơi      
3 Chảy nước mắt      
4 Đau cơ hoặc chuột rút      
5 Co cứng bụng      
6 Buồn nôn hoặc nôn      
7 Tiêu chảy      
8 Giãn đồng tử      
9 Nổi da gà hoặc ớn lạnh      
10 Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp      
11 Ngáp      
12 Ngủ không yên      

Ghi chú:

  1. Trạng thái cai dương tính (+) khi có 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai.
  2. Thời gian theo dõi để xác định trạng thái cai nhóm Opiats tối đa là 03 ngày
  3. Ghi chép chi tiết của y sỹ/ bác sĩ (nếu cần thiết):..

Căn cứ Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12 / 12 / 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn chẩn đoán người nghiện ma túy nhóm OPIATS (chất dạng thuốc phiện), quy định:

« I-Khái niệm:

  1. Chất ma túy là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.

Chất ma túy có nhiều loại: loại tự nhiên, loại bán tổng hợp, loại tổng hợp.

  1. Ma túy nhóm Opiats (chất dạng thuốc phiện: CDTP)
  2. a) Ma túy nhóm Opiats (CDTP) là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dược lý tương tự thuốc phiện, bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadon, Levo- alpha- acetyl- methadon (LAAM)…
  3. b) Trong nhiều tài liệu có đề cập đến ma túy nhóm Opiats hoặc nhóm Opioid hoặc các CDTP. Ba nhóm trên thực chất là một, trong hướng dẫn này thống nhất tên gọi của ba nhóm trên là nhóm Opiats hoặc CDTP”.

Theo quy định trên : Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình là người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định, Công an xã Yên Lãng xác định tình trạng nghiện ma túy mới chỉ tiến hành thủ tục xét nghiệm chất ma túy có kết quả dương tính với chất ma túylàm căn cứ để xác định đã nghiện ma túy và xác định là đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để lập hồ sơ đề nghị là không đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tích số 17 nêu trên, đồng nghĩa không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính :

“Điều 96. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.

Căn cứ phân tích nêu trên, việc Tòa án nhân dân huyện Đại từ ban hành quyết định số 07/2019 ngày 27/02/2019 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Đình Hình, thời hạn 15 tháng, là không đúng đối tượng, trái pháp luật.

(Quyết định của Tòa án nhân dân huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên đã có hiệu lực pháp luật lý do: Người bị đề nghị không khiếu nại, VKSND cùng cấp không kháng nghị, Cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội không kiến nghị – Pháp luật không có quy định thủ tục giám đốc thẩm).

3.Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, sai phạm trong các vụ việc nêu trên.

3.1.Nguyên nhân khách quan.

a-Đối với cơ quan Công an cấp xã:

Công an cấp xã có nhiệm vụ thu thập tài liệu để tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị cư trú tại địa phương hoặc không có nơi cư trú ổn định có hành vi vi phạm xảy ra trên địa bàn. Theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Công an xã năm 2008 quy định:

“Điều 4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Công an xã

  1. Công an xã chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Công an cấp trên”.

Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an xã Đức Lương; xã Yên Lãng có những vi phạm pháp luật đối với các hồ sơ đề nghị nêu trên, do công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan: Cấp ủy Đảng cơ sở, của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và của Công an cấp huyện chưa được thường xuyên sâu sát, chặt chẽ.

b.Đối với Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện:

Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có chức năng kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Chủ tịch UBND cấp xã đề nghị. Theo khoản 1; khoản 2 Điều 9 và khoản 1; khoản 3 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền năm 2015, quy định:

“Điều 9. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

  1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
  2. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên”.

“Điều 29. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện là người đứng đầu Ủy ban nhân dân huyện và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  1. Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân huyện; lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện;
  2. Lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn huyện;”.

c.Đối với cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại từ thực hiệnkiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Tại khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh số 09 quy định:

“Điều 4. Kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

  1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật”.

Tại điểm a khoản 2 Điều 67 Luật tổ chức VKSND năm 2014, quy định:

“Điều 67. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

  1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
  2. a) Chỉ đạo, điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác, quyết định các vấn đề về công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp mình và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; báo cáo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao khi có yêu cầu”;

Quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với 02 vụ việc nêu trên để xảy ra Việc Tòa án nhân dân huyện Đại Từ ban hành 02 quyết định trái pháp luật, không thực hiện quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật, do Viện trưởng VKSND huyện Đại Từ chưa thực hiện đầy đủ công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ về công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp mình.

d.Đối với cơ quan Tòa án nhân dân huyện Đại Từ thực hiệnviệc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09, quy định:

“Điều 3. Thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính

  1. Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở”.

Việc thực hiện thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với 02 vụ việc nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, đã ban hành 02 quyết định trái pháp luật có trách nhiệm của Thẩm phán và Lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Đại Từ.

3.2.Nguyên nhân chủ quan.

Những tồn tại, vi phạm trong công tác trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, việc thực hiện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật trên địa bàn huyện Đại Từ có những vi phạm nêu trên, do cán bộ có chức trách được giao nhiệm vụ thực hiện đã không thực hiện hết chức trách, nhiệm vụ được giao, thiếu tinh thần trách nhiệm, không thường xuyên nghiên cứu, học tập nghiệp vụ chuyên môn nhằm nâng cao năng lực công tác.

Khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được chuyển giao cho Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh. Đây là bước chuyển từ thủ tục hành chính sang thủ tục tư pháp do Tòa án xem xét, phán quyết bằng quyết định của Tòa án nhằm nâng cao hơn việc bảo đảm quyền con người trong quá trình xem xét, quyết định đưa hay không đưa một người có hành vi vi phạm vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thực hiện Pháp lệnh số 09; Chính phủ, các cơ quan ngang bộ; UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện quy trình, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chức năng Nhà nước từ cơ sở cấp xã cho đến cấp huyện.

Để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của các ngành có liên quan, trong công tác lập hồ sơ đề nghị, việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng trình tự, thủ tục, đúng theo quy định của pháp luật trên địa bàn huyện Đại Từ nói riêng, không để xảy ra những vi phạm tương tự nêu trên.

Viện trưởng, VKSND tỉnh Thái Nguyên kiến nghị:

Đề nghịChủ tịch UBND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trên cương vị chức trách, nhiệm vụ, thực hiện các biện pháp sau:

– Chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân, thông qua đó nhằm giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân, trong đó có công tác phòng, chống tội phạm, tệ nạn về ma túy, đồng thời nâng cao cảnh giác góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện.

-Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập pháp luật nói chung; pháp luật về phòng, chống tội phạm ma túy và tác hại của ma túy, về kiến thức lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

-Tăng cường công tác chỉ đạo cơ quan chuyên môn thuộc phạm vi chức trách của mình về tăng cường công tác tập huấn nâng cao năng lực công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ cơ sở có liên quan đến công tác thực hiện trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nhất là đối với cán bộ cấp xã, phường, thị trấn trong việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

-Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan trong khối nội chính cụ thể: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện trong công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, thực hiện tốt công tác phối kết hợp hướng dẫn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc huyện ủy thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chính sách, pháp luật, trong việc thực hiện Pháp lệnh số 09 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn, bảo đảm việc lập hồ sơ đề nghị, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn đúng pháp luật, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị địa phương.

Phòng 10

 

 

 

KIẾN NGHỊ Khắc phục vi phạm pháp luật

10 Tháng Bảy, 2019 Thông Tin Tuyên Truyền

Thông qua công tác kiểm sát các bản án Kinh doanh – Thương mại phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy đã có vi phạm tố tụng về thời hạn gửi bản án phúc thẩm cho cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, cụ thể:

  1. Vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa:

– Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín

– Bị đơn : Công ty cổ phần Thương mại và Du lịch Toàn Thắng

Vụ án đã được xét xử theo trình tự phúc thẩm ngày 14/3/2019 và Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên rabản án số 01/2019/KDTM-PT ngày 14/3/2019. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận được bản án ngày 03/5/2019.

  1. Vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa:

– Nguyên đơn:Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam

– Bị đơn: Ông Hạ Văn Quy và Bà Đinh Thị Thanh Tân

Vụ án đã được xét xử theo trình tự phúc thẩm ngày 29/5/2019 và Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên rabản án số 02/2019/KDTM-PT ngày 29/5/2019, ngày 27/6/2019 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận được bản án.

Căn cứ khoản 1 Điều 315 Bộ luật tố tụng dân sự, quy định:

Điều 315. Gửi bản án, quyết định phúc thẩm

  1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho…Viện kiểm sát cùng cấp…”.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã gửi các bản án trên cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên với thời hạn:

– Đối với bản án số 01/2019/KDTM-PT ngày 14/3/2019, Viện kiểm sát nhân dan tỉnh Thái Nguyên nhận ngày 03/5/2019, sau thời gian 50 ngày (Năm mười ngày) kể từ ngày Tòa án ra bản án.

– Đối với bản án số 02/2019/KDTM-PT ngày 29/5/2019Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận ngày 27/6/2019, sau thời gian 29 ngày (Hai mươi chín ngày) kể từ ngày Tòa án ra bản án.

Căn cứ nội dung trên, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã vi phạm về thời hạn gửi bản án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, quy định tại khoản 1 Điều 315 Bộ luật tố tụng dân sự.

Để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành kiến nghị gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên có biện pháp chỉ đạo kiểm tra, tổ chức rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phụckhông để những vi phạm tương tự xảy ra .

                                                                                    Phòng 10

 

Rút kinh nghiệm trong việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị hủy khi có khiếu nại

26 Tháng Sáu, 2019 Văn Bản

Thực hiện công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 12/QĐ-TA ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh, sinh năm 1983, trú quán: Xóm Rộc Mán, xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng.

Phòng 10- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy cần nêu lên một số thiếu sót, vi phạm của cơ quan lập hồ sơ và Tòa án cấp sơ thẩm để rút kinh nghiệm chung:

  1. Không thể hiện chức vụ chuyên môn, bằng cấp chuyên ngành y của người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện chất ma túy

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, thể hiện: Lê Văn Minh là đối tượng nghiện ma túy, đang chấp hành quyết định số 192/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của Chủ tịch UBND xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy.

Tại biên bản xét nghiệm ma túy do Công an xã Đức Lương lập hồi 8h00 ngày 21/02/2019 tại UBND xã Đức Lương, huyện Đại Từ, Thái Nguyên, đối với Lê Văn Minh với thành phần:

– Ông Hoàng Văn Trung- Chức vụ: Trưởng Công an xã Đức Lương.

– Ông Lâm Văn Hiếu- Chức vụ: Cán bộ CA huyện Đại Từ.

– Bà Đỗ Thị Bình –     (không ghi chức danh, chức vụ)

– Ông Nguyễn Văn Học- Chức vụ: Bí thư Đoàn thanh niên xã.

Hình thức, dụng cụ kiểm tra: Xét nghiệm nước tiểu.

Kết quả xét nghiệm trên que thử xuất hiện 01 vạch đỏ, dương tính với chất ma túy Hêrôin.

Kết luận: Đối tượng Minh sử dụng trái phép chất ma túy.

(Các thành phần có trong biên bản ký tên, xác nhận).

 Dưới biên bản: Đại diện Trạm Y tế xã Đức Lương ký tên bà Đỗ Thị Bình. (Không ghi chức vụ chuyên môn, bằng cấp chuyên ngành y).

Việc ký tên đại diện của Trạm Y tế xã Đức Lương nêu trên không thể hiện chức vụ chuyên môn, bằng cấp chuyên ngành y của người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy quy định tại Điểm 3 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ, về: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định:

3. Khoản 1 Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:

  1. Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sĩ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điu trị ct cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tchức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại: Các cơ sở y tế quân y trạm y tế xã, phường, thị trấn”.
  2. Không tiến hành tiếp nhận đối tượng để xác định tình trạng nghiện ma túy

Tại văn bản số 03/ĐN-CA ngày 21/02/2019 của Công an xã Đức Lương ghi đề nghị Trạm Y tế xã Đức Lương xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Văn Minh. Tuy nhiên, địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Văn Minh được tiến hành tại UBND xã Đức Lương (Theo biên bản xét nghiệm ma túy). Như vậy Trạm Y tế xã Đức Lương không tiếp nhận đối tượng Lê Văn Minh và không tiến hành thủ tục, quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy tại Trạm Y tế theo đề nghị của Công an xã Đức Lương, là không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09/7/2015, quy định:

« Điều 5. Quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy trình sau:

  1. Tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy và tài liệu quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này ».
  2. Vi phạm trong việc lập Biên bản vi phạm hành chính

Căn cứ vào các tài liệu: Biên bản xét nghiệm ma túy do Công an xã Đức Lương lập hồi 8h00 ngày 21/02/2019; Bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 21/02/2019 của Lê Văn Minh; căn cứ phiếu theo dõi về xác định tình trạng nghiện ma túy và phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 22/02/2019 của Trạm Y tế xã Đức Lương.(Hồ sơ không có phiếu theo dõi về xác định tình trạng nghiện ma túy)

Ngày 25/02/2019 Công an xã Đức Lương lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Văn Minh. Thời gian sau 04 ngày kể từ ngày lập biên bản xét nghiệm ma túy – có kết quả dương tính với chất ma túy (là trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ) và  từ ngày Lê Văn Minh có bản tường trình ngày 21/02/2019 về việc tự nhận sử dụng trái phép chất ma túy, là không tuân thủ pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính.

“Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

  1. Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm”.

  1. Tòa án không yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ

Ngày 29/3/2019 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ mở phiên họp tiến hành xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh.

Tại biên bản phiên họp thể hiện người bị đề nghị Lê Văn Minh xác nhận, các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc như: Biên bản xét nghiệm ma túy; Bản tường trình; Biên bản vi phạm hành chính do Công an xã Đức Lương lập, Lê Văn Minh được ký tên, xác nhận nội dung các tài liệu; Có được đọc hồ sơ đề nghị không có ý kiến khiếu nại, nhưng xác định bản thân không nghiện ma túy; ngày 21/02/2019 không được Trạm Y tế xã Đức Lương lấy nước tiểu xét nghiệm xác định nghiện ma túy theo quy định.

Từ những phân tích tồn tại, vi phạm về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an xã Đức Lương đối với Lê Văn Minh nêu trên và tại phiên họp người bị đề nghị xác nhận không được trực tiếp cơ quan có thẩm quyền lấy nước tiểu để xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy.

 Như vậy lời trình bày của người bị đề nghị có mâu thuẫn với các tài liệu do Công an xã Đức Lương lập hồ sơ đề nghị, không thể giải quyết được tại phiên họp và cần phải dừng phiên họp, yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 13.

“Điều 14. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ

  1. Thẩm phán yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ trong các trường hợp sau đây:
  2. a) Khi tài liệu chứng minh hành vi vi phạm của người bị đề nghị, tài liệu về nhân thân, tình trạng sức khỏe của người bị đề nghị chưa rõ hoặc có mâu thuẫn mà không thể bổ sung, làm rõ tại phiên họp”.

Tuy nhiên sau phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 12/ QĐ-TA ngày 29/3/2019, đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh, với thời hạn 15 tháng. Người bị đề nghị có đơn khiếu nại đối với quyết định trên.

Căn cứ nội dung đơn khiếu nại, Cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại Từ tiến hành xác minh, thẩm tra trình tự, thủ tục lâp hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh, kết quả: Quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy của cơ quan lập hồ sơ chưa đúng định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 08/7/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, phù hợp với nội dung đơn khiếu nại của người bị đề nghị. Nên cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có văn bản số 90/LĐTBXH ngày 24/5/2019 về việc: Rút đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh.

Kết quả tại phiên họp xét đơn khiếu nại, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận đơn khiếu nại của người bị đề nghị Lê Văn Minh, hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 12/QĐ-TA ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, đình chỉ việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Văn Minh.

Những tồn tại, vi phạm nêu trên xác định: Quá trình thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Kiểm sát viên được phân công chưa thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, không phát hiện được nhưng tồn tại, vi phạm của cơ quan chức năng lập hồ sơ đề nghị, để thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án dừng phiên họp, để yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung, tài liệu chứng cứ giải quyết mâu thuẫn bảo đảm việc giải quyết vụ việc đúng pháp luật.

Phòng 10 nêu lên để các đơn vị cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

                                                                                        Phòng 10

 

Rút kinh nghiệm trong việc áp dụng Thông tư số 17/2015/-BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 của Bộ Y tế – Bộ Công an – Bộ Lao động thương binh và xã hội, về: Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, trong việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

18 Tháng Sáu, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

 

Thực hiện công tác kiểm sát Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Phòng 10- VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy:

Trong thời gian từ ngày 01/12/2018 đến 31/5/2019 Phòng 10 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tiếp nhận: 292 quyết định liên quan đến việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện, do Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gửi đến theo quy chế. Trong đó có 14 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của một số Tòa án nhân dân cấp huyện ban hành chưa đúng theo quy định của pháp luật về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong việc xác định tình trạng nghiện ma túy. Cụ thể là những trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định, trong quá trình lập hồ sơ, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy theo Thông tư 17/2015/-BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 của Bộ Y tế- Bộ Công an-Bộ Lao động thương binh và xã hội, Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy.

Trong 14 quyết định của Tòa án cấp huyện nêu trên, có nội dung cơ bản ghi như sau:

Phần “NHẬN THẤY” có ghi:

“…Nguyễn Văn A là người nghiện ma túy từ năm…, loại ma túy sử dụng hê rô in, hình thức sử dụng chích (hoặc hít).

 Tại bản tường trình ngày 10/4/2019 anh Nguyễn Văn A thừa nhận vào ngày 09/4/2019 có mua ma túy về sử dụng, hình thức sử dụng là chích (hoặc hít).

Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 10/4/2019, Trạm Y tế xã X, huyện P đã có kết quả xét nghiệm chất gây nghiện về việc xác định người nghiện ma túy đối với anh Nguyễn Văn A, xác định anh Nguyễn Văn A nghiện ma túy với kết quả dương tính với ma túy.

Vào hồi 09 h ngày 10/4/2019 Công an xã X, huyện P đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh Nguyễn Văn A.

Ngày 10/4/2019 Công an huyện P tiến hành xác minh về nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn A, kết quả xác minh: Anh A không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên sống lang thang, gia đình không liên lạc được với anh A.

Ngày 14/5/2019 Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện P có công văn …về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Phần “ XÉT THẤY” có ghi:

“…Vào hồi 09 h ngày 10/4/2019 Công an xã X, huyện P đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh Nguyễn Văn A.

Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm ngày 10/4/2019, Trạm Y tế xã X, huyện P xác định anh Nguyễn Văn A nghiện ma túy, với kết quả xét nghiệm: Dương tính (+). Bản thân người bị đề nghị cũng khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng gần nhất là ngày 09/4/2019.

Ngày 10/4/2019 Công an huyện P tiến hành xác minh về nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn A, kết quả xác minh: Anh A là đối tượng không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, gia đình không biết đi đâu. Ngày 10/4/2019 Chủ tịch UBND xã X đã có quyết định…về việc giao anh Nguyễn Văn A cho cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên..”.

(Ghi chú: Các tài liệu Phiếu xét nghiêm chất ma túy; Bản tường trình của người bị đề nghị; Biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy, được lập cùng một ngày).

Căn cứ nội dung trên xét thấy: Hồ sơ đề nghị (Theo nội dung quyết định xác định căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị thể hiện), nội dung được nêu trong quyết định, có cơ sở xác định:

Việc xác định tình trạng nghiện ma túy làm cơ sở, điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định (Chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ – hoặc chưa bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy). Cơ quan đề nghị, Tòa án nhân dân xem xét, quyết định đối với các trường hợp nêu trên chỉ căn cứ vào kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy của Trạm Y tế cấp xã. Ngoài ra không còn thủ tục và quy trình nào khác để xác định tình trạng nghiện ma túy làm căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Thông tư 17/2015/-BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 của Bộ Y tế- Bộ Công an-Bộ Lao động thương binh và xã hội, về: Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, quy định như sau:

“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư liên tịch này quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy nhóm Opiats (các chất dạng thuốc phiện) và ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

  1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định tình trạng nghiện ma túy.
  2. Cá nhân thuộc diện cần phải xác định tình trạng nghiện được quy định tại Nghị định số94/2010/NĐ-CPngày 09/9/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng, Nghị định số 111/2013/NĐ-CPngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Điều 3. Thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ hoặc y sỹ, có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, có chứng chỉ hoặc chứng nhận tập huấn về chẩn đoán và điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh- Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức hoặc các viện, bệnh viện, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có đủ điều kiện thực hiện tập huấn và cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận được Bộ Y tế giao, đang làm việc tại các cơ sở y tế sau:

  1. Phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  2. Phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  3. Trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; bệnh viện cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các Bộ, ngành khác.

Điều 4. Thủ tục đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy

  1. Văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy của Công an xã, phường, thị trấn hoặc công an cấp huyện, cấp tỉnh.
  2. Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc các tài liệu phản ánh hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tài liệu chứng minh đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về nghiện ma túy (nếu có); tài liệu chứng minh đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (nếu có).

Điều 5. Quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy trình sau:

  1. Tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy và tài liệu quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này.
  2. Tiến hành ngay việc xác định tình trạng nghiện ma túy
  3. a) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy nhóm Opiats

Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về nghiện ma túy;

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên;

– Kết quả áp dụng nghiệm pháp Naloxone dương tính (+);

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

  1. b) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy chất dạng Amphetamine

Người được xác định là nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine khi có ít nhất 3 trong 6 triệu chứng sau trong 12 tháng vừa qua »

 Căn cứ Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12 / 12 / 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn chẩn đoán người nghiện ma túy nhóm OPIATS (chất dạng thuốc phiện), quy định:

I-Khái niệm:

  1. Chất ma túy là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.

Chất ma túy có nhiều loại: loại tự nhiên, loại bán tổng hợp, loại tổng hợp.

  1. Ma túy nhóm Opiats (chất dạng thuốc phiện: CDTP)
  2. a) Ma túy nhóm Opiats (CDTP) là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dược lý tương tự thuốc phiện, bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadon, Levo- alpha- acetyl- methadon (LAAM)…
  3. b) Trong nhiều tài liệu có đề cập đến ma túy nhóm Opiats hoặc nhóm Opioid hoặc các CDTP. Ba nhóm trên thực chất là một, trong hướng dẫn này thống nhất tên gọi của ba nhóm trên là nhóm Opiats hoặc CDTP”.

Căn cứ quy định trên, đối tượng phải xác định tình trạng nghiện ma được quy định tại các Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính phủ; Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Việc xác định tình trạng nghiện phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục, quy trình và người xác định tình trạng nghiện phải đúng thẩm quyền.

Để xác định người nghiện ma túy phải có kết quả xét nghiệm, quy trình quy định tại Điều 5 Thông tư 17, cụ thể:

 Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy nhóm Opiats

Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây :

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về nghiện ma túy;

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (Chưa được xóa tiền sự).

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

 

PHỤ LỤC SỐ 1

(Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 7 năm 2015 Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy)

Bộ…………………

Sở………………….

Tên cơ sở:

PHIẾU THEO DÕI
về xác định tình trạng nghiện ma túy nhóm Opiats( các chất dạng thuốc phiện)

Họ tên:…………………………………………………………………………………………………………….

Địa chỉ……………………………………………………………………………………………………………..

Do Công an……………………………………………………………………………………………………….

… giờ… ngày… tháng … năm … tiếp nhận theo dõi.

Số TT Các triệu chứng của trạng thái cai Ngày thứ nhất Ngày thứ 2 Ngày thứ 3
1 Cảm giác thèm chất ma túy      
2 Ngạt mũi hoặc hắt hơi      
3 Chảy nước mắt      
4 Đau cơ hoặc chuột rút      
5 Co cứng bụng      
6 Buồn nôn hoặc nôn      
7 Tiêu chảy      
8 Giãn đồng tử      
9 Nổi da gà hoặc ớn lạnh      
10 Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp      
11 Ngáp      
12 Ngủ không yên      

Ghi chú:

  1. Trạng thái cai dương tính (+) khi có 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai.
  2. Thời gian theo dõi để xác định trạng thái cai nhóm Opiats tối đa là 03 ngày
  3. Ghi chép chi tiết của y sỹ/ bác sĩ (nếu cần thiết):..

Ma túy nhóm Opiats được quy định tại điểm a khoản 2 Mục I  Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12 / 12 / 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Theo quy định trên, đối với trường hợp người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định (Chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ- hoặc chưa bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy), xác định người đó nghiện ma túy phải đủ điều kiện sau:

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (Chưa được xóa tiền sự).

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

Do đó: Những trường hợp nêu trên, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định, việc xác định tình trạng nghiện mới chỉ tiến hành thủ tục xét nghiệm « Dương tính với chất ma túy túy nhóm Opiats », làm căn cứ để xác định đã nghiện ma túy và để xác định là đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính :

“Điều 96. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.

Là không đúng theo quy định của pháp luật.

Những tồn tại vi phạm trong 14 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện (gồm Huyện Phú Bình 12 quyết định; Thành phố Thái Nguyên: 01 quyết định; huyện Đại Từ: 01 quyết định) này có trách nhiệm của Kiểm sát viên và Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện chưa nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật trong việc thực hiện công tác kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tồn tại này cần được thông báo rút kinh nghiệm chung. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                                   Phòng 10

                                                              

Page 1 of 41234