Tag Archives: phòng 1

CHI ĐOÀN VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN TỔ CHỨC TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT BẰNG PHIÊN TÒA GIẢ ĐỊNH

13 Tháng Mười Một, 2020 Bài viết nổi bật, Slider, Thông Tin Tuyên Truyền

Thực hiện chương trình kế hoạch hoạt động năm 2020, đẩy mạnh công tác tuyên truyền của ngành Kiểm sát, đồng thời tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 09/11. Được sự nhất trí của Lãnh đạo VKSND tỉnh, chiều ngày 12/11/2020, chi đoàn VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng Trường Cao đẳng  nghề số 1 Bộ Quốc phòng tổ chức buổi tuyên truyền pháp luật thông qua phiên tòa giả định vụ án “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với sự tham dự của hơn 600 học sinh khối 12 toàn trường.

Phiên tòa giả định được xây dựng dựa trên vụ án có thật, theo đó, bị cáo 16 tuổi 7 tháng có quan hệ yêu đương và quan hệ tình dục với bạn gái dẫn tới bạn gái có thai và sinh con khi chưa đầy 13 tuổi. Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về Hiếp dâm người dưới 16 tuổi quy định tại Khoản 2 Điều 142 BLHS năm 2015.

Những thuật ngữ pháp lý tuy còn rất mới đối với các em nhưng đã được cụ thể hóa bằng những câu hỏi tình huống thực tế. Phần giao lưu diễn ra sôi nổi và được sự hưởng ứng nhiệt tình của các em học sinh. Câu trả lời của các em học sinh cho thấy các em về cơ bản nắm được những nội dung mà phiên tòa muốn truyền tải.

Thông qua phiên tòa giả định mang tính trực quan sinh động, sát với thực tế và phù hợp với độ tuổi, các em học sinh đã được tuyên truyền, giải thích, giúp cho các em nhận diện được hành vi phạm tội, các yếu tố cấu thành tội phạm, mức hình phạt, tính nghiêm minh của pháp luật, cũng như chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó, các em đã hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật, ý thức được chuẩn mực ứng xử cũng như ý thức phòng, tránh các hành vi xâm hại tình dục, tự bảo vệ mình và người khác; khuyến khích các em chăm chỉ học hành, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Qua mỗi buổi tuyên truyền pháp luật thông qua phiên tòa giả định, không chỉ mang lại kiến thức cho các em học sinh mà còn là cơ hội để những đoàn viên Chi đoàn VKSND tỉnh Thái Nguyên tự trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng và kinh nghiệm cho bản thân. Đây sẽ là hoạt động được Chi đoàn phát động thường xuyên và nhân rộng hơn trong thời gian tới.

Một số hình ảnh tại buổi tuyên truyền

86 87

Hoàng Tố Uyên

Phòng 1- VKSND tỉnh

LÃNH ĐẠO VIỆN KSND TỈNH THÁI NGUYÊN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

15 Tháng Mười, 2020 Bài viết nổi bật, Slider, Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Sáng ngày 14/10/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa ra xét xử vụ án Nguyễn Văn Thành, bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên được phân công THQCT, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án là đồng chí Hoàng Văn Tiến – Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Theo cáo trạng mà điện diện Viện kiểm sát công bố và trên cơ sở xét hỏi tại phiên tòa xác định: Do bản thân không có việc làm ổn định, hám lời nên Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1996, trú tại tổ 22, phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã mua của Nguyễn Thanh Bảo số lượng 75,242 gam ma túy loại Heroine với giá 40.000.000đ, sau đó mang đến khu vực cổng Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Việt Bắc mục đích để bán cho đối tượng tên là Tuấn với giá 44.000.000đ, trong khi đợi Tuấn đến để bán ma túy thì Thành bị tổ công tác của Công an TP. Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

59

Đ/c Hoàng Văn Tiến- trình bày bản luận tội tại phiên Tòa.

Tại phần xét hỏi, Kiểm sát viên đã làm rõ được diễn biến hành vi phạm tội của bị can. Tại phần tranh luận, khi trình bày bản luận tội, Kiểm sát viên đã phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát trong đó lập luận đầy đủ về các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Thành, phân tích nguyên nhân điều kiện phạm tội; nhận định đầy đủ về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Thành từ 15 đến 16 năm tù, phạt bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng. Kiểm sát viên đối đáp không nhất trí quan điểm của Luật sư về hình phạt chính và hình phạt bổ sung, giữ nguyên quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Trên cơ sở đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đã tuyên bị cáo Nguyễn Văn Thành phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thành: 16 năm tù, phạt bổ sung 10 triệu đồng./.

Hoàng Tố Uyên– Phòng 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN TRIỂN KHAI THỰC HIỆN THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 01/2020 VỀ QUẢN LÝ, GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN, VỤ VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ

12 Tháng Mười, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 01/6/2020, liên ngành Trung ương: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Tư phápđã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDT- BCA- BNN&PTNT – BTC- BTP quy định phối hợp thực hiện một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 01/2020). Thông tư có hiệu lực thi hành ngày 15/7/2020.

Thực hiện sự chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các văn bản số 3324/VKSTC-V4 ngày 31/7/2020 và 4345/VKSTC-V4 ngày 22/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã giao cho Phòng 1 là đơn vị đầu mối theo dõi vụ án, vụ việc tạm đình chỉ của toàn tỉnh. Phòng 1 đã kịp thời tham mưu cho Lãnh đạo viện triển khai Thông tư liên tịch số 01/2020 tới toàn thể cán bộ, công chức Viện kiểm sát hai cấp làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án hình sự hoặc có trách nhiệm liên quan đến quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ để thực hiện, vận dụng trong công tác.

Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Nguyên đã chủ động phối hợp với các cơ quan tố tụng, cơ quan điều tra cùng cấp rà soát số vụ án tạm đình chỉ đang quản lý; vụ việc tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã tạm dừng xác minh trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý, giải quyết hoặc theo dõi theo hướng dẫn tại Thông tư.

Quá trình thực hiện Thông tư liên tịch số 01/2020 cũng phát sinh một số khó khăn vướng mắc tại các đơn vị, địa phương như: Trong biểu mẫu thống kê tội phạm hiện nay chưa có số liệu thể hiện việc đình chỉ điều tra đối với các vụ án hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; việc phối hợp triển khai rà soát số liệu giữa cơ quan Công an và Viện kiểm sát có địa phương chưa kịp thời… Những khó khăn này Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tổng hợp và kiến nghị liên ngành Trung ương có hướng dẫn và chỉ đạo kịp thời tại Hội nghị triển khai Thông tư liên tịch số 01/2020 dự kiến được tổ chức vào giữa tháng 10/2020. /.

Nguyễn Thanh Hiếu – Phòng 1

Chi bộ Phòng 1 lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác hướng dẫn nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp huyện

17 Tháng Chín, 2020 GIẢI BÁO CHÍ TOÀN QUỐC BÚA LIỀM VÀNG

Chủ trương “Hướng về cơ sở” trong những năm gần đây được ngành Kiểm sát đặc biệt chú trọng. Điều đó được thể hiện trong các Chỉ thị công tác hàng năm do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành và triển khai thực hiện. Quán triệt nghiêm túc các Chỉ thị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kế hoạch công tác hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; thực hiện chủ trương “Đổi mới, hướng về cơ sở” của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong các năm công tác, Phòng 1 đều phối hợp với 01 VKS cấp huyện mở điểm kiểm sát trực tiếp trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin tội phạm tại cơ quan cảnh sát điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Do có sự chỉ đạo thường xuyên từ Cấp ủy chi bộ nên thực hiện chỉ tiêu kiểm sát trực tiếp được duy trì đúng tiến độ kế hoạch và đạt được kết quả tốt.

Theo Chương trình công tác hằng năm, Phòng 1 thực hiện hướng dẫn, kiểm tra đối với 01 đơn vị VKSND cấp huyện trong công tác kiểm sát giải quyết án hình sự về an ninh, ma túy; từ tháng 02 năm 2020, Phòng 1 được bổ sung thêm nhiệm vụ THQCT, kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về kinh tế và tham nhũng, chức vụ. Thông qua công tác kiểm tra, hướng dẫn của Phòng nghiệp vụ nhằm đánh giá đúng thực trạng, kết quả công tác THQCT, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự thuộc lĩnh vực chuyên môn của Phòng; bên cạnh đó Phòng 1 cũng chỉ ra những tồn tại, thiếu sót của đơn vị được kiểm tra; ghi nhận những kiến nghị, đề xuất của VKS cấp huyện từ đó có những hướng dẫn, chỉ đạo thống nhất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đối với khâu công tác này.

Một trong những nội dung mà chi ủy chi bộ luôn chú trọng chỉ đạo thực hiện đó là tăng cường kiểm tra cáo trạng của VKSND cấp huyện nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm, chỉ đạo khắc phục, xử lý những thiếu sót để việc truy tố  vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Thông qua kiểm tra cáo trạng, Phòng 1 tổng hợp khó khăn, vướng mắc của cấp huyện để tham mưu cho Lãnh đạo viện có hướng dẫn, chỉ đạo đối với những khó khăn vướng mắc trong việc quyết định truy tố như: Tình tiết định khung tăng nặng Phạm tội nhiều lần” hoặc phạm tội đối với nhiều người tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự – tội mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm khoản truy tố đối với bị can phạm tội mà có từ 02 chất ma túy trở lên … Các báo cáo chuyên đề mà Phòng 1 được Lãnh đạo Viện KSND tỉnh Thái Nguyên giao làm đầu mối tổng hợp, xây dựng cũng được đặc biệt quan tâm. Cán bộ, KSV của Phòng thường xuyên có hướng dẫn đến cán bộ tổng hợp các chuyên đề của VKS cấp huyện để xây dựng báo cáo, số liệu thống kê kịp thời, chính xác.

Thực hiện chỉ tiêu công tác của ngành, định kỳ mỗi quí Phòng 1 đều có 01 thông báo rút kinh nghiệm đến VKSND cấp huyện để cùng quán triệt, rút kinh nghiệm chung. Các thông báo rút kinh nghiệm trong những năm gần đây tập trung nhiều vào việc ban hành cáo trạng (về thể thức, nội dung); một số thông báo tập trung vào nội dung kiểm sát điều tra án hình sự và công tác báo cáo, thống kê. Các thông báo rút kinh nghiệm đã có tác dụng chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót của VKSND các huyện, thành phố, thị xã nhằm thực hiện đúng các quy định của pháp luật, chỉ đạo của cấp trên và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà ngành giao. Đối với các vụ án xin thỉnh thị đường lối giải quyết, Phòng 1 đã kịp thời tham mưu trả lời bằng văn bản đúng thời hạn.

Trong những năm gần đây số lượng các vụ án về các tội phạm theo Điều 304, 305/BLHS tăng lên rất nhiều. Với chức năng của mình Phòng 1 đã thực hiện tốt công tác THQCT, kiểm sát điều tra kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử sơ thẩm án hình sự do Cơ quan An ninh điều tra thụ lý giải quyết. Căn cứ Quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới trong việc giải quyết vụ án hình sự do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố, phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm ban hành kèm theo Quyết định số 314/QĐ-VKSTC ngày 05/7/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao; Chi ủy chi bộ đã chỉ đạo các Kiểm sát viên làm tốt công tác hướng dẫn, phối hợp với VKS cấp huyện khi THQCT, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án do Cơ quan An ninh điều tra. Một số vụ án phân công biệt phái Kiểm sát viên làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm cùng với Kiểm sát viên cấp huyện. Các vụ án phân công VKS cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm đều được xét xử về tội danh, điều khoản đúng theo cáo trạng VKS tỉnh đã truy tố; không có vụ án nào Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Tháng 7 và tháng 9 năm 2020, Chi bộ chọn nội dung sinh hoạt theo chuyên đề là “Tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ đối với VKS cấp huyện”. Trong các buổi sinh hoạt chuyên đề, Chi ủy chi bộ đề ra phương hướng, nhiệm vụ để các Đảng viên thảo luận công tác chuyên môn, nghiệp vụ từ đó tổng hợp được những công việc cần thiết và hiệu quả nhất. Sau sinh hoạt chuyên đề, đồng chí Bí thư Chi bộ giao nhiệm vụ cho từng Đảng viên, các Đảng viên căn cứ nhiệm vụ được giao luôn chủ động triển khai thực hiện công việc của mình, đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn và chất lượng.

Có thể khẳng định công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy chi bộ Phòng 1 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực hiện công tác hướng về cơ sở, hướng dẫn nghiệp vụ VKSND cấp huyện. Đối với các Phòng nghiệp vụ, bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ công tác chuyên môn của đơn vị thì còn phải thực hiện tốt công tác kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ đối với VKS cấp huyện. Vì vậy, đối với Chi ủy chi bộ thì cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao và thường xuyên thì công tác này mới đạt được hiệu quả. Trong thời gian qua, Phòng 1 đã làm tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ được Đảng ủy, Lãnh đạo Viện KSND tỉnh Thái Nguyên ghi nhận. Trong thời gian tới, để phát huy những thành quả đã đạt được, Chi ủy chi bộ Phòng 1 cần tiếp tục quán triệt các quy định của pháp luật; chỉ thị, hướng dẫn của ngành; tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy trong công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ đối với viện KSND các huyện, thành phố, thị xã. Bên cạnh đó, mỗi đồng chí là cán bộ, Đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực và thực hiện nhiệm vụ của Ngành trong tình hình hiện nay./.

Người viết: Nguyễn Thanh Hiếu – Chi bộ Phòng 1

PHÒNG 1 VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN TỔ CHỨC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM

29 Tháng Năm, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2020 của Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên, nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên toà, ngày 21/5/2020 Phòng 1 – VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh đưa ra xét xử rút kinh nghiệm theo yêu cầu cải cách tư pháp vụ án hình sự Trương Văn Hân, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 3 Điều 251 BLHS. Tham dự phiên tòa có các đồng chí là thành viên, thư ký BCĐ tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm VKSND tỉnh Thái Nguyên; Lãnh đạo, Kiểm sát viên Phòng 1.

Tại phiên tòa, do có sự chuẩn bị tốt cho công tác KSXX sơ thẩm hình sự nên Kiểm sát viên đã nêu rõ đầy đủ các chứng cứ buộc tội, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi luật sư đưa ra những quan điểm để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo thì Kiểm sát viên đã có những phân tích, lập luận đối đáp để bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đảm bảo căn cứ pháp lý và tính thuyết phục cao.

48

Đ/c Nông Anh Vượng – Kiểm sát viên THQCT, KSXX tại phiên toà rút kinh nghiệm

Trên cơ sở đề nghị mức án của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tuyên phạt Trương Văn Hân 15 năm tù giam.

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, đồng chí Đàm Thị Hoàn- Ủy viên BCĐ tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm VKSND tỉnh Thái Nguyên đã chủ trì tổ chức cuộc họp rút kinh nghiệm.  Các đồng chí tham dự phiên tòa đã tham gia ý kiến nhận xét đánh giá rút kinh nghiệm, cụ thể như sau: Việc chọn vụ án Trương Văn Hân để xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp đã đảm bảo được yêu cầu đặt ra. Kiểm sát viên đã thực hành tốt quyền công tố và kiểm sát xét xử, đối đáp tranh luận với luật sư có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận; tác phong nghiêm túc, tự tin, chủ động xét hỏi. Bên cạnh đó, các đồng chí tham dự phiên tòa cũng chỉ ra một số vấn đề cần rút kinh nghiệm như: Kiểm sát viên trình bày luận tội hơi nhanh, đối đáp với luật sư cần ngắn gọn hơn …

Người viết: Tố Uyên – Phòng 1

Về một Kiểm sát viên người dân tộc thiểu số

25 Tháng Năm, 2020 Cuộc thi chân dung cán bộ kiểm sát & Bản lĩnh Kiểm sát viên

Đồng chí Nông Văn Hưng, sinh năm 1978 hiện là Kiểm sát viên trung cấp tại Phòng 1 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Là người dân tộc Nùng, đồng chí Hưng sinh ra và lớn lên tại xã miền núi Phù Ngọc thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tuổi thơ đ/c Hưng gắn liền với làng bản của núi rừng vùng Đông Bắc. Tuy gia đình có truyền thống là nghề giáo viên nhưng sau khi tốt nghiệp THPT, Nông Văn Hưng lại chọn con đường cho riêng mình là theo học tại Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội. Từ khi vào ngành Kiểm sát năm 2001 đến nay, đồng chí Hưng đã trải qua nhiều khâu công tác và ở nhiều địa phương khác nhau từ tỉnh Bắc Kạn đến Thái Nguyên. Điều đáng trân trọng ở người Kiểm sát viên này là dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng đều sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng chí Hưng chia sẻ: Mình là người dân tộc thiểu số đã quen với núi rừng từ nhỏ, mình không ngại khó khăn, gian khổ vất vả, chỉ mong muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ theo yêu cầu của ngành, của lãnh đạo đơn vị. Mỗi khó khăn là mỗi thử thách để mình rèn luyện bản lĩnh của người cán bộ kiểm sát. Trải qua 19 năm công tác trong ngành kiểm sát thì 16 năm đồng chí Hưng công tác ở Viện kiểm sát cấp huyện (trong đó 11 năm ở tỉnh Bắc Kạn, 5 năm ở tỉnh Thái Nguyen), thực hiện nhiệm vụ ở hầu hết các khâu công tác của ngành từ kiểm sát giải quyết án dân sự, hôn nhân gia đình, án hành chính đến thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết án hình sự; kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Tháng 4/2018, theo sự điều động của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đồng chí Hưng về nhận công tác tại Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự về trật tự xã hội, kinh tế và tham nhũng, chức vụ (Phòng 2), sau đó tháng 02/2019 đồng chí tiếp tục được điều động công tác tại Phòng 1 đến nay. Lãnh đạo Viện, lãnh đạo Phòng 1 trên cơ sở số lượng các vụ việc thường phân công Kiểm sát viên Hưng các vụ án do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh điều tra về vật liệu nổ và vũ khí quân dụng do đặc trưng của loại án này cần Kiểm sát viên phải đi hiện trường nhiều, phối hợp với Điều tra viên nhiều hoạt động điều tra. Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra nhiều vụ việc tàng trữ, mua bán, vận chuyển vật liệu nổ với số lượng lớn, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương đặt ra yêu cầu xử lý nghiêm minh đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa. Là Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự liên quan đến an ninh, đồng chí Hưng đã phối hợp rất tốt với Điều tra viên để thực hiện các hoạt động điều tra như xác định hiện trường, khám xét … Có vụ án, việc xác định hiện trường và lấy lời khai của các đối tượng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, đường xá đi lại khó khăn nhưng Kiểm sát viên Hưng luôn theo sát cùng Điều tra viên đến hiện trường, kiểm sát chặt chẽ các thủ tục tố tụng. Vì vậy các vụ án mà đồng chí Hưng được phân công kiểm sát đều đảm bảo tiến độ điều tra, việc giải quyết đều đúng quy định của pháp luật. Năm 2018 và 2019 xảy ra nhiều vụ án liên quan đến vật liệu nổ trong đó nguồn gốc vật liệu nổ đều xuất phát từ khai trường, bãi thải của Mỏ than Phấn Mễ thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án, đồng chí Hưng đã kịp thời đề xuất Lãnh đạo Viện ban hành Kiến nghị phòng ngừa vi phạm trong việc sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại chi nhánh Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên – Mỏ than Phấn Mễ. Kiến nghị đã được Mỏ than Phấn Mễ tiếp thu, góp phần vào công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm về vật liệu nổ xảy ra trên địa bàn tỉnh; nâng cao vai trò, chất lượng quản lý của các đơn vị, các ngành chức năng trong quản lý và sử dụng vật liệu nổ. Bên cạnh đó, đồng chí Hưng cũng được lãnh đạo viện, phòng phân công đảm nhiệm với số lượng lớn án ma túy mỗi năm. Các vụ án ma túy do Kiểm sát viên Hưng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm đều được giải quyết đảm bảo các quy định của pháp luật, không xảy ra oan, sai, không có án đình chỉ do bị can không phạm tội…

Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của ngành kiểm sát là hướng về cơ sở, tăng cường hướng dẫn cấp huyện để phát hiện vi phạm, ban hành kháng nghị, kiến nghị kịp thời. Năm 2019, Kiểm sát viên Hưng đã trực tiếp theo dõi, hướng dẫn cho 03 đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án về an ninh, ma túy. 6 tháng đầu năm 2020, đồng chí Hưng được phân công theo dõi Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên – đơn vị có số lượng hình sự nói chung và án ma túy nói riêng nhiều nhất tỉnh Thái Nguyên. Với trách nhiệm được giao, đồng chí Hưng đã và đang thực hiện tốt vị trí vai trò của một Kiểm sát viên trung cấp thông qua các nhiệm vụ công tác như: Kiểm tra cáo trạng, hướng dẫn nghiệp vụ … Đồng chí đã kịp thời chỉ đạo các Kiểm sát viên của đơn vị cấp huyện khắc phục, sửa chữa ngay những sai sót của cáo trạng đúng về nội dung (điểm, khoản của Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố) và việc ban hành đúng thể thức (các mẫu biểu nghiệp vụ theo quy chế của ngành).

Trong mỗi giai đoạn, công tác dù ở Viện kiểm sát cấp huyện hay các phòng nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát tỉnh, đồng chí Hưng đều hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ, 02 năm đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, năm 2017 được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tặng Bằng khen trong phong trào thi đua xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.

Bản lĩnh của một con người được tạo nên từ quá trình rèn luyện phấn đấu. Đối với người Kiểm sát viên, bản lĩnh còn phải bắt nguồn từ sự nhiệt huyết, lòng yêu nghề và sự phấn đấu không mệt mỏi, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách. Đối với Nông Văn Hưng, ở người Kiểm sát viên này hội tụ đủ mọi yếu tố đó. Tuy nhiên, Nông Văn Hưng chưa khi nào nhận vinh dự về mình, chưa bao giờ hài lòng với những thành quả mà mình đã đạt được. Cũng như bao người cán bộ, Kiểm sát viên khác thì suốt đời được phục vụ nhân dân, được khoác lên mình màu áo thiên thanh, chiến đấu hết mình cho công lý, lẽ phải mới là niềm vinh dự lớn lao nhất mà không một phần thưởng nào có giá trị hơn./.

Nguyễn Thanh Hiếu – Phòng 1

PHÒNG 1: BAN HÀNH THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM Thông qua kết quả kiểm tra bản Cáo trạng của VKSND cấp huyện

15 Tháng Năm, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện công tác hướng dẫn cấp huyện, qua công tác kiểm tra bản Cáo trạng án hình sự về tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp huyện trong 5 tháng đầu năm 2020, Phòng THQCT- KSĐT- KSXXST án hình sự về an ninh, ma túy, kinh tế và tham nhũng, chức vụ (Phòng 1) thấy còn có một số tồn tại, thiếu sót cần thiết phải được kịp thời khắc phục, rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng bản cáo trạng. Cụ thể như sau:

Việc sử dụng từ ngữ đơn vị đo lường: Thông qua kiểm tra thấy VKSND cấp huyện khi ban hành Cáo trạng vẫn còn sử dụng cụm từ “Trọng lượng” trong việc thu giữ, cân, kết luận giám định chất ma túy… đây là cụm từ được quy định tại các Điều 193, 194, 195 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Bộ luật hình sự năm 2015 đã thay cụm từ “Trọng lượng” chất ma túy bằng cụm từ “Khối lượng” chất ma túy được quy định tại các Điều 248, 249, 250, 251, 252, 253 Bộ luật hình sự. Vì vậy việc sử dụng cụm từ “Trọng lượng chất ma túy” trong bản Cáo trạng kể từ thời điểm ngày 01/01/2018 là trái với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Cáo trạng số 75 ngày 21/4/2020).

– Việc trích dẫn Điều luật truy tố đối với bị can: Qua kiểm tra thấy còn có 01 bản Cáo trạng trích dẫn điều luật đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015 ghi: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy…thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Như vậy là không đúng quy định của BLHS năm 2015, vì: Điều 194 BLHS năm 1999 gồm 04 cấu thành tội phạm khác nhau nhưng được quy định trong cùng một điều luật (cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy) vì vậy, nếu bị can phạm một trong các tội được quy định tại Điều 194 thì chỉ cần trích dẫn riêng tội danh đó mà không cần trích đầy đủ các cấu thành tội phạm khác được ghi cùng trong điều luật. Ở Bộ luật hình sự năm 2015 đã tách riêng từng tội được quy định ở các Điều luật riêng và có cấu thành tội phạm khác nhau, do đó khi trích dẫn điều luật phải trích đầy đủ các yếu tố cấu thành được nêu trong khoản 1 của Điều luật, việc trích dẫn như trên là không đúng với cấu thành của tội Tàng trữ trái phép chát ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS (Cáo trạng số 73 ngày 20/4/2020).

– Truy tố bị can sai điểm của khoản trong điều luật: Có đơn vị VKSND cấp huyện truy tố đối với bị can NTT về tội Tàng trữ trái phép 3,306 gam chất ma túy (gồm 0,333 gam Heroin và 2,973 gam Methamphetamine) theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Việc truy tố như trên là không đúng quy định, vì trong mọi trường hợp bị can phạm tội có 02 (hai) chất ma túy trở lên (trong cùng một điểm….) thì áp dụng tình tiết truy tố đối với bị can là “có từ 02 chất ma túy trở lên….” được quy định tại các điểm tương ứng trong khoản của Điều luật truy tố. Trong trường hợp này bị can phải bị truy tố theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS (Cáo trạng số 61 ngày 30/3/2020).

– Không nêu phần vật chứng của vụ án: Cáo trạng số 78 ngày 27/4/2020 truy tố đối với bị can BVL về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng còn lại của vụ án này gồm 02 bì niêm phong ký hiệu E; F là số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bì niêm phong vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị can. Tuy nhiên phần nội dung của vụ án không nêu rõ vật chứng của vụ án gồm những gì, đã xử lý như thế nào, còn lại những gì…như vậy là thực hiện không đúng với mẫu bản Cáo trạng số 144/HS ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ- VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

– Không nêu rõ việc xử lý hành vi vi phạm của bị can: Cáo trạng số 66 ngày 31/3/2020 truy tố đối với các bị can: NVC; TTKV về tội mua bán trái phép chất ma túy: Theo nội dung cáo trạng thì ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị can V còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,547 gam ma túy loại Ketamine mục đích để sử dụng – không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tuy nhiên trong cáo trạng không nhận định và nêu rõ việc CQĐT có xử lý hành chính đối với hành vi này của bị can Vân hay không, như vậy là chưa thực hiện đúng quy định theo mẫu Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã ban hành.

Phòng 1 VKSND tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện để cùng rút kinh nghiệm chung, nhằm thực hiện tốt các quy định của pháp luật và hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn./.

 

Nguyễn Thanh Hiếu – Phòng 1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHÒNG 1 PHỐI HỢP VỚI VKSND HUYỆN ĐỊNH HÓA KIỂM SÁT TRỰC TIẾP VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM ĐỐI VỚI CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN HUYỆN ĐỊNH HÓA

15 Tháng Năm, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện Chương trình công tác kiểm sát năm 2020và tăng cường công tác hướng về cơ sở, ngày 12/5/2020, Phòng 1- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa có sự tham gia của Ủy ban MTTQ tỉnhtiến hành kiểm sát trực tiếp việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện Định Hóa. Dự và chỉ đạo cuộc kiểm sát trực tiếp có đồng chí Hoàng Văn Tiến – Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Phát biểu chỉ đạo đồng chí Phó Viện trưởng nhấn mạnh: Việc kiểm sát trực tiếp là hoạt động thường kỳ của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua việc kiểm sát trực tiếp đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hóanhằm kịp thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc, đề ra các giải pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc;nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tiếp nhận giải quyết nguồn tin về tội phạm, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Sau thời gian làm việc đầy trách nhiệm và khẩn trương, Đoàn kiểm sát trực tiếp đãthống nhất với Cơ quan CSĐT Công an huyện Định Hóa nội dung biên bản kiểm sát. Phòng 1đang tiến hành dự thảokết luận kiểm sát trực tiếp để Lãnh đạo Viện duyệt, ký ban hành theo thời hạn quy định./.

 

Nguyễn Thanh Hiếu – Phòng 1

 

 

PHÒNG 1 KIỂM SÁT VIỆC CÂN MA TÚY VỚI KHỐI LƯỢNG LỚN

15 Tháng Năm, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 06/5/2020, tại cửa quán Ngoại Ô thuộc tổ 8, phường Tân Long, TP Thái Nguyên, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang 2 đối tượng Đỗ Minh Tuân, sinh năm 1987 và Ngô Văn Long, sinh năm 1988 đều có HKTT: tại xã Cao Ngạn, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi bán trái phép chất ma túy. Kiểm tra Đỗ Minh Tuân phát hiện thu giữ trong chiếc giày bằng vải màu đỏ đen Tuân đang cầm trên tay trái 06 túi nilon bên trong có tổng cộng 1.188 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 114,65  gam và 12 viên nén màu xanh khối lượng 1,12 gam (Tuân khai là ma túy tổng hợp). Kiểm tra Ngô Văn Long phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải Long đang mặc 02 túi nilon bên trong có 393 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 37,64 gam và 02 viên nén màu xanh có khối lượng 0,19 gam (Tuân khai là ma túy tổng hợp). Tổng khối lượng ma túy thu giữ của của hai đối tượng Tuân, Long là 153,6 gam.

Ngay sau khi bắt giữ các đối tượng và thu giữ vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong vật chứng, cân khối lượng và lấy mẫu gửi giám định. Phòng 1 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã cử Kiểm sát viên kịp thời tham gia kiểm sát hoạt động của cơ quan điều tra. Việc cân khối lượng, đếm số lượng và lấy mẫy gửi giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra được thực hiện đúng trình tự và quy định của pháp luật./.

340

Ành: Tang vật ma túy bị thu giữ.

Nguyễn Thanh Hiếu – Phòng 1

NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI  “CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY” QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 256 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015.

31 Tháng Ba, 2020 Trao Đổi Pháp Luật

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018), trong đó nhóm tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XX bao gồm 13 Điều luật, từ Điều 247 đến Điều 259. BLHS đã có hiệu lực pháp luật được 02 năm, tuy nhiên, hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành BLHS năm 2015 đối với một số tội hiện còn chưa được ban hành, đặc biệt là đối với nhóm tội phạm về ma túy, với tình hình tội phạm về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc xử lý đối với nhóm tội này hiện nay là hết sức khó khăn, có nhiều vướng mắc và nhận thức khác nhau giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) như vấn đề áp dụng pháp luật, về hiệu lực của các văn bản hướng dẫn… Thực tiễn hiện nay các Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) vẫn vận dụng hệ thống các văn bản hướng dẫn BLHS năm 1999 để xử lý đối với nhóm tội phạm về ma túy quy định trong BLHS năm 2015, từ đó dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể,

Hiện nay xảy ra rất nhiều trường hợp một người (hoặc một nhóm người) đứng ra thuê phòng trọ, nhà nghỉ, khách sạn, phòng hát Karaoke…để sử dụng trái phép chất ma túy (tổ chức các sự kiện như mừng sinh nhật, chiêu đãi bạn…), hoặc người nghiện ma túy sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, sở hữu của mình để cùng với những người nghiện ma túy khác sử dụng ma túy, hoặc thuê phòng trọ ở rồi cung cấp ma túy cho những người nghiện ma túy khác ở cùng khu thuê trọ sử dụng, mục đích là lôi kéo họ sử dụng ma túy hoặc bán ma túy cho mình, về nguồn ma túy thì có thể của một người hoặc nhiều người cùng góp tiền mua để sử dụng chung…tuy nhiên, việc xử lý đối với các trường hợp này hiện nay là hết sức khó khăn vì phần lớn họ đều là những nghiện ma túy, thuê phòng trọ trong thời gian ngắn rồi rủ những người khác đến để cùng sử dụng ma túy; Phần lớn các vụ việc loại này khi phát hiện bắt giữ thường là không thu giữ được vật chứng, hoặc có thu được thì khối lượng ma túy còn lại rất ít không đủ để giám định hoặc cấu thành tội phạm khác (Tàng trữ trái phép chất ma túy…), thực tế trong số ít các vụ án đã khởi tố điều tra, truy tố và xét xử được thì chủ yếu là căn cứ vào lời khai nhận của bị can và những người nghiện ma túy được bị can cho mượn, thuê địa điểm để sử dụng ma túy, ví dụ như trường hợp sau đây:

Tóm tắt nội dung: 20 giờ ngày 10/9/2017. CQĐT Công an tỉnh TN bắt quả tang Hà Văn Đ; Mùi Văn Th đang vận chuyển trái phép 03 bánh Heroin. Đ; Th khai vận chuyển thuê cho Tráng A C để lấy tiền công, quá trình điều tra Đ và Th khai nhận khoảng 18 giờ cùng ngày khi đến nhận ma túy để vận chuyển thì C đã lấy 06 viên ma túy tổng hợp ra rồi cùng với Đ; Th sử dụng hết tại nhà riêng của C; Tráng A C cũng khai nhận phù hợp với lời khai của Đ và Th. Đối với hành vi của C hiện có hai quan điểm xử lý khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Tráng .A .C không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256 BLHS vì:

Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

“1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2….3…”

Như vậy bất kỳ người nào có hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu của mình hoặc có hành vi khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này thì phạm tội, người phạm tội biết rõ người khác thuê hoặc mượn là để sử dụng trái phép chất ma túy, không quy định nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có, của ai, người có địa điểm có nghiện ma túy hoặc có cùng sử dụng ma túy với người khác hay không… về cấu thành cơ bản, khung hình phạt, các tình tiết định khung tăng nặng đều không khác so với Điều 198 BLHS năm 1999.

Đến thời điểm này, chưa có văn nào hướng dẫn chi tiết tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256 BLHS năm 2015, các CQTHTT vẫn đang vận dụng theo “tinh thần” hướng dẫn tại điểm đ, mục 2, phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (Nghị quyết số 02 năm 2003/ NQ- HĐTP) hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1999; điểm b, tiết 7.3 mục 7, phần II  Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC- BTP ngày 24/12/2007 (Thông tư số 17/2007) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 theo đó “Người nào nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy;…” Như vậy, theo hướng dẫn tại hai văn bản này thì bản thân người có địa điểm phải không nghiện ma túy, không cùng sử dụng với người đã thuê, mượn địa điểm thì mới phạm tội, còn nếu họ là người nghiện ma túy và cùng sử dụng thì không phạm tội này (ví dụ: A đang sử dụng ma túy tại nhà riêng thì có B và C là bạn cũng là người nghiện ma túy đến chơi, A mời B, C cùng sử dụng ma túy thì bị bắt, trong trường hợp này A không phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu khối lượng ma túy còn lại đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì A phải chịu TNHS về tội tương ứng…)

Mặt khác: Theo quy định tại Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 thì “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó, hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền… ”

Điều 172. Hiệu lực thi hành. “1. 2. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ…là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.”

Như vậy Nghị quyết số 02/2003; Thông tư số 17/2007 là các văn bản quy phạm pháp pháp luật, hướng dẫn chi tiết việc áp dụng một số điều của BLHS năm 1999 hiện nay chưa có văn bản nào của chính các cơ quan ban hành các văn bản này thay thế, hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ và không trái với quy định của BLHS năm 2015, vì vậy các văn bản này vẫn còn hiệu lực áp dụng cho BLHS năm 2015 (ví dụ như Nghị quyết số 01/2001/NQ- HĐTP ngày 15/3/2001 của HĐTP TANDTC đến nay vẫn được các CQTHTT áp dụng khi xét xử đối với nhóm tội về ma túy, hoặc kể từ ngày 30/12/2015 nếu  TA trưng cầu giám định hàm lượng đối với chất ma túy ở thể rắn (không gồm nhiều loại trộn lẫn với nhau) theo công văn số 234 ngày 17/9/2014 của Tòa án Tối cao là trái với quy định của TT 08/2015 nên VKS căn cứ vào TT 08/2015 để kháng nghị bản án).

Trong trường hợp này cả ba tập trung sử dụng trái phép chất ma túy là ngẫu nhiên, không có sự bàn bạc, thống nhất trước, bản thân C cũng cùng sử dụng ma túy với Đ; Th, quan trọng nhất là không thu giữ được vật chứng mà chỉ do các đối tượng tự khai nhận, trong trường hợp nếu cả ba thay đổi lời khai, cùng khai chất đã sử dụng không phải là ma túy mà là chất khác thì không có căn cứ nào khác để buộc tội…Do đó không đủ căn cứ để khởi tố đối với C về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo.

Quan điểm thứ hai: Tráng A C phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” vì:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 154- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 quy định về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật như sau: “4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.”.

Như vậy: kể từ ngày 01/1/2018 thì BLHS năm 1999 hết hiệu lực thi hành, vì vậy tất cả các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết thi hành nhóm tội phạm về ma túy của BLHS năm 1999 nói chung, tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng cũng sẽ đương nhiên hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/1/2018, vì vậy không được viện dẫn hoặc hiểu theo “tinh thần” của các văn bản này làm căn cứ để xác định hành vi của Tráng A C có phạm tội hay không.

Mặt khác: Điều 3 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC – BTP ngày 14/11/2015 giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp về “Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC – BTP ngày 24/12/2007…” quy định như sau:

“3. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2015. Bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm b, tiết 7.3, mục 7, phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ”; Như vậy, kể từ ngày 30/12/2015 thì điểm b, tiết 7.3, mục 7, phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT hướng dẫn về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hết hiệu lực, như vậy kể cả trường hợp người có địa điểm cùng sử dụng ma túy với những người nghiện ma túy khác thì họ cũng vẫn phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 198 BLHS năm 1999, Điều 256 BLHS năm 2015.

Trong trường hợp này này, mặc dù không thu giữ được vật chứng nhưng các đối tượng đều tự nguyện khai báo, cả ba đều không nghiện ma túy, vì vậy có đủ căn cứ xác định: Tráng A C là người cung cấp ma túy, cùng với Đ; Th sử dụng tại nhà ở thuộc sở hữu của C (đã thỏa mãn nhu cầu về ma túy), nên hành vi của C đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 256 BLHS năm 2015 (đối với 02 người trở lên.)

Đối với vụ án này chúng tôi thống nhất với quan điểm thứ hai vì: Xác định Nghị quyết số 02/2003; Thông tư số 17/2007; Thông tư liên tịch số 08/2015 vẫn còn hiệu lực áp dụng theo quy định tại Điều 12; 172 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (không phải là vận dụng theo “tinh thần” các văn bản này), tuy nhiên, do điểm b, tiết 7.3, mục 7, phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT đã bị bãi bỏ theo quy định tại Điều 3 của TTLT số 08/2015, do đó mặc dù Tráng A C có phải là người nghiện ma túy và có cùng sử dụng với Đ và Th tại nhà ở của C hay không, không phải là yếu tố định tội của Điều 256 BLHS.

Do còn có những vướng mắc, quan điểm, nhận thức khác nhau như trên, xin nêu ra để trao đổi, thống nhất nhận thức về hiệu lực của Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP và các TTLT số 17/2007; số 08/2015 để giải quyết trường hợp này cũng như các trường hợp xảy ra về sau. Đề nghị liên ngành cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể để địa phương vận dụng, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, làm oan người vô tội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay./.

                                                                       Phòng 1 – VKS  tỉnh Thái Nguyên

Page 1 of 41234