Tag Archives: Lan Anh

ĐẠI HỘI CHI BỘ PHÒNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ, VIỆC LAO ĐỘNG, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

25 Tháng Ba, 2020 Đảng bộ, Đảng đoàn thể

Thực hiện Kế hoạch số 123-KH/ĐUK ngày 02/7/2019; Hướng dẫn số 25-HD/ĐUK ngày 13/11/2019 của Ban thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thái Nguyên về Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025.

Được sự nhất trí của Đảng ủy VKSND tỉnh Thái Nguyên, chiều ngày 23/3/2020, tại Hội trường VKSND tỉnh Thái Nguyên diễn ra Đại hội chi bộ Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc Lao động, kinh doanh, thương mại nhiệm kỳ 2020-2022.

Đến dự  và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh.

3

Đ/c Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Tại Đại hội, đ/c Lê Văn Mạnh thay mặt Đoàn chủ tịch đã thông qua Báo cáo chính trị của Cấp ủy nhiệm kỳ 2017- 2020 trình Đại hội, trong đó đã tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2017 – 2020; báo cáo kiểm điểm của Cấp ủy Chi bộ nhiệm kỳ 2017 – 2020 và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ 2020 -2022.

Trong nhiệm kỳ 2017 – 2020, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy VKSND tỉnh, Cấp ủy Chi bộ cùng với sự cố gắng nỗ lực của từng cán bộ, Đảng viên trong chi bộ, Chi bộ phòng kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc lao động, kinh doanh thương mại đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu công tác. Trong nhiệm kỳ không có Đảng viên vi phạm kỷ luât, các Đảng viên đều hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, tập thể Chi bộ đoàn kết, nhất trí.

4

Đ/c Lê Văn Mạnh – Bí thư Chi bộ phòng KS án hành chính nhiệm kỳ 2017-2020 thông qua báo cáo chính trị.

Phát biểu tại Đại hội đồng chí Lý Văn Huấn, Ủy viên BCH Đảng bộ, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên ghi nhận các kết quả đã đạt được và chỉ ra những tồn tại, hạn chế của Chi bộ trong nhiệm kỳ 2017-2020; đồng thời định hướng cho chi bộ một số nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai thực hiện trong nhiệm kỳ 2020-2022.

5

Đ/c Lý Văn Huấn cùng đại diện Chi bộ chúc mừng 02 đ/c trúng cử Chức danh Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ nhiệm kỳ 2020- 2022

Cũng tại đại hội, các đảng viên trong Chi bộ đã sôi nổi thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến và các dự thảo văn kiện được trình bày tại Đại hội, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Đảng viên và tinh thần dân chủ, sáng tạo. Đại hội đã tín nhiệm bầu đồng chí Lê Văn Mạnh- Trưởng phòng 10 tiếp tục tái cử chức danh Bí thư Chi bộ; bầu đồng chí Đỗ Quang Chung- Phó Trưởng phòng 10 chức danh Phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2020- 2022.

Phát biểu bế mạc Đại hội, đồng chí Bí thư Chi bộ Phòng Kiểm sát giải quyết án hành chính nhiệm kỳ 2020 – 2022 đã tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo của lãnh đạo Đảng ủy, đồng thời thay mặt tập thể đảng viên Chi bộ hứa sẽ quyết tâm phát huy tối đa tinh thần đoàn kết, sáng tạo, hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2020 – 2022.

                                                                          Tin và bài: Lan Anh

Rút kinh nghiệm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa do áp dụng pháp luật không đúng

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

 

Thông qua công tác xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý số 04/2019/TLST-HC ngày 03/12/2019 đối với  quyết định đình chỉ vụ án hành chính số 02/2019/QĐST-HC ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên có quan điểm như sau:

          – Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định người bị kiện không đúng pháp luật.

          – Áp dụng chế định về án phí không đúng quy định.

Áp dụng điểm b khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định lại người bị kiện, và áp dụng lại chế định về án phí. Hội đồng xét xử đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 NHỮNG NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người bị kiện.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 23/8/2017 ông Đỗ Mạnh Hiếu có đơn tố cáo gửi tới Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên với nội dung: Việc gia đình ông Châu ở số nhà 449/1, đường Cách Mạng Tháng Tám và một số người khác lấn chiếm đất cống rãnh thoát nước, dẫn đến việc nước không thoát được đã ngấm vào nhà ông Hiếu gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông Hiếu.

Căn cứ nội dung đơn tố cáo của ông Hiếu, UBND phường Hương Sơn tiến hành tổ chức xác minh, giải quyết đơn tố cáo theo quy định.

Kết quả Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đã ban hành: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017.

Không đồng ý với nội dung bản kết luận số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, ông Hiếu có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu:

– Hủy toàn bộ kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp nhận ngày 18/12/2018.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, TAND thành phố Thái Nguyên có Thông báo số 06/2018 ngày 28/12/2018 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 21/01/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện: là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp tục có Thông báo số 16/2019 ngày 24/01/2019 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 12/02/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung khác vẫn giữ nguyên.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật, xác định người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả giải quyết vụ án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Theo nội dung trên:

Quyết định hành chính bị kiện trong vụ án là: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản do Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên ban hành trên cơ sở kết quả giải quyết đơn tố cáo của công dân Đỗ Mạnh Hiếu, tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc địa bàn UBND phường Hương Sơn quản lý, người có thẩm quyền giải quyết, được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011; và Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

          Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Điều 38. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Căn cứ quy định trên, Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của ông Đỗ Mạnh Hiếu và ban hành kết luận nội dung giải quyết đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định:

9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là không đúng quy định nêu trên.

Cụ thể trong vụ án này, xác định người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người khời kiện yêu cầu Tòa án:

– Hủy văn bản kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

– Xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Xét các yêu cầu của người khởi kiện nhận thấy:

+ Đối với yêu cầu Hủy kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án thể hiện, người khởi kiện ông Đỗ Mạnh Hiếu không đồng ý với nội dung kết luận giải quyết đơn tố cáo của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp

“1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo”.

Căn cứ quy định trên, việc ông Hiếu không đồng ý với kết quả giải quyết  của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đối với nội dung đơn tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của ông, ông có quyền tố cáo tiếp tới Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên giải quyết, theo quy định trên.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.

+Đối với yêu cầu đề nghị: Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Căn cứ khoản 3; khoản 4 Điều 3 Luật TTHC quy định:

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  1. Hành vi hành chính bị kiệnlà hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định:

“Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”.

Căn cứ quy định trên yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hành chính.

Sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Mạnh Hiếu, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng người khởi kiện không thực hiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, trả lại đơn khởi kiện.

  1. Áp dụng chế định về án phí không đúng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án buộc ông Đỗ Mạnh Hiếu phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, chuyển từ khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007454 ngày 21/3/2019 của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là chưa phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án quy định:

Điều 18. Xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

  1. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyếtvụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sựvà trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có yếtố nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 472 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại điểm b, c, e, d, g và h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.

Theo quy định trên trong trường hợp này người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                             Phòng 10

Rút kinh nghiệm đối với bản án có vi phạm tố tụng hành chính, giải quyết vụ án vượt quá thẩm quyền

28 Tháng Mười Hai, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Vụ án thứ nhất:

Người khởi kiện: Ông Dương Văn T – Sinh năm 1963.

ĐKHKTT: xã K, huyện P, Tỉnh T.

Người bị kiện:  Chủ tịch UBND xã K, huyện P, Tỉnh T.

Nội dung: Căn cứ vào kết quả kiểm tra, xác minh, ngày 19/5/2017, UBND xã K, lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông T, về hành vi chiếm đất trái phép. Chủ tịch UBND xã K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPVPHC ngày 26/5/2017, trong lĩnh vực đất đai đối với ông T. Không đống ý với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ngày 12/9/2017, ông T có đơn khởi kiện vụ án hành chính đề nghị Tòa án nhân dân huyện P hủy bỏ toàn bộ quyết định số 04/QĐ-XPVPHC ngày 26/5/2017 của Chủ tịch UBND xã K về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Tại bản án số 01/2018/HC-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện P đã quyết định:“Bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông Dương Văn T. Giữ nguyên quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 04/QĐ-XPVPHC ngày 26/5/2017 của Chủ tịch UBND xã K, huyện P, tỉnh T. Buộc ông Dương Văn Thạch khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trả lại đúng kích thước chiều rộng, chiều dài của con đường (theo Điều 1 quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 26/5/2017)”.

 Vụ án thứ hai:

Người khởi kiện: Bà Cao Thị Thanh H – Sinh năm 1982.

ĐKHKTT: phường T, Thành phố N, tỉnh T.

Người bị kiện:  Trưởng Công an huyện P, Tỉnh T.

Nội dung: Ngày 07/5/2016, bà H có hành vi xâm phạm sức khỏe đối với bà Nguyễn Thị Hồng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của bà H, Trưởng Công an huyện P, tỉnh T có quyết định số 0081953/QĐ-XPHC ngày 14/9/2016 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà H. Không đồng ý với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà H có đơn khởi kiện vụ án hành chính, đề nghị Tòa án án nhân dân huyện P xét xử hủy toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên.

Tại bản án số 02/2018/HC-ST ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện P đã quyết định:“Bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của bà Cao Thị Thanh H. Giữ nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số 0081953 ngày 14/9/2016 của Trưởng Công an huyện P, tỉnh T”.

Không đồng ý với nội dung các bản án, ông T và bà H có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; Thông qua công tác Kiểm sát, Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên xác định, đối với cả 02 vụ án trên, Tòa án nhân dân huyện P quyết định giải quyết vụ án vượt quá thẩm quyền, vi phạm pháp luật, nên đã ban hành kháng nghị số 04, 05 ngày 25/9/2018, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm vụ án, theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm xét xử đã chấp nhận 02 kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, sửa một phần bản án:

Đối với vụ án người khởi kiện là ông Dương Văn T: “Bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông Dương Văn T đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 04/QĐ-XPVPHC ngày 26/5/2017 của Chủ tịch UBND xã K, huyện P, tỉnh T”. 

Đối với vụ án người khởi kiện là bà Cao Thị Thanh H: “Bác yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Thanh Huệ về việc đề nghị hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số 0081953 ngày 14/9/2016 của Trưởng Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.

Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

  1. Đối với vụ án người khởi kiện bà Cao Thị Thanh H, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định: “Bác toàn bộ nội dung đơn yêu cầu khởi kiện của bà H”. Ngoài ra còn quyết định có nội dung: “Giữ nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số 0081953 ngày 14/9/2016 của Trưởng Công an huyện P”.
  2. Đối với vụ án người khởi kiện ông Dương Văn T, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định:“Bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông T. Ngoài ra còn quyết định có nội dung: “Giữ nguyên quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 04/QĐ-XPVPHC ngày 26/5/2017 của Chủ tịch UBND xã K. Buộc ông T khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trả lại đúng kích thước chiều rộng, chiều dài của con đường (theo Điều 1 quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 26/5/2017)”.

Việc ban hành các bản án, quyết định giải quyết vụ án có nội dung trên của Tòa án nhân dân huyện P, đã vượt quá thẩm quyển, không đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định:

Điều 193. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử

  1. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:
  2. a) Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật”;

Xin được nêu lên để các đồng chí cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm./.       

                                                                                           Lan Anh- Phòng 10

PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI SƠ THẨM

28 Tháng Tám, 2018 Uncategorized

Ngày 10/8/2018- Phòng 10- VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng với TAND tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm, về việc: “Bàn giao tài sản của công ty”, theo đơn khởi kiện của công ty TNHH Thương Mại và Dịch vụ Đồng Phú yêu cầu bà Phan Thị Phương Hằng phải bàn giao lại con dấu cho công ty.

Tham dự phiên tòa có cán bộ Kiểm sát viên, kiểm tra viên phòng 10- VKSND tỉnh.

Kiểm sát viên tham gia xét xử: Nguyễn Mạnh Thúy-KSVTC

Sau khi kết thúc phiên tòa, chiều ngày 13/8/2018 Phòng 10 đã tiến hành họp rút kinh nghiệm đối với kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thể hiện bản lĩnh, bình tĩnh, tự tin, tác phong chững trạc, theo dõi toàn bộ diễn biến tại phiên tòa, tham gia hỏi nguyên đơn, bị đơn để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Kiểm sát viên đã phát biểu ý kiến rõ ràng, mạch lạc, đầy đủ, đúng quy định pháp luật về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ: Buộc bà Phan Thị Phương Hằng, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Thương Mại và Dịch vụ Đồng Phú phải bàn giao con dấu của Công ty cho ông Đặng Đình Quý- Chủ tịch HĐTV, Giám đốc công ty TNHH Thương Mại và Dịch vụ Đồng Phú.

                Lan Anh- Phòng 10

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM Vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm Do Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật

18 Tháng Sáu, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Nội dung vụ án:

Ngày 12/11/ 1999 Ông Hồ Viết Lục, trú tại phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 86, tờ bản đồ số 35 diện tích 160m2 đất ở, được UBND tỉnh Thái Nguyên cấp quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Hạnh. Ngày 15/11/1999 ông Lục tiếp tục nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Hạnh khoảng 100m2 đất do bà Hạnh khai hoang trên thửa đất số 75, tờ bản đồ số 35 (Gọi tắt là thửa đất số 75) tiếp giáp phía Bắc thửa đất số 86. (Thửa đất số 75 có diện tích 926 m2, theo hồ sơ địa chính bản đồ 299, do UBND phường Phan Đình Phùng quản lý – đất chưa sử dụng), không có xác nhận của chính quyền địa phương, không đủ điều kiện để cấp quyền sử dụng đất.

Thực hiện dự án xây dựng khu dân cư điều hòa Hồ xương rồng đợt II, UBND tỉnh Thái Nguyên có quyết định số 2959/QĐ-UBND ngày 21/12/2007 về việc thu hồi đất, trong đó có thửa đất số 75.

Năm 2011 hộ gia đình ông Lục đã tiến hành xây dựng công trình nhà xưởng trên thửa đất số 75 phần diện tích nhận chuyển nhượng của bà Hạnh,  gồm:

– 01 nhà cấp 4, một tầng, lợp Pơ rô xi măng diện tích: 47 m2.

– 01 nhà cột sắt, kèo sắt mái lợp tôn diện tích 103 m2.

Làm cơ sở kinh doanh chăm sóc xe hơi, nhà hàng ăn uống.

Thực hiện quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND thành phố Thái Nguyên có thông báo số 219/TB-UBND ngày 17/4/2014, về việc: Giao nhiệm vụ cho UBND phường Phan Đình Phùng tháo dỡ tài sản trên đất đã giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án, trong đó có thửa đất số 75.

Ngày 29/4/2014 UBND phường Phan Đình Phùng kiểm tra, phát hiện hộ gia đình ông Lục xây dựng công trình trên đất thửa đất số 75 nêu trên. (Nhưng không tiến hành lập biên bản về việc xây dựng trái phép).

Sau ngày 29/4/2014 UBND phường Phan Đình Phùng tổ chức đoàn công tác nhiều lần đến gia đình ông Lục, yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất thửa đất số 75, mà xác định là xây dựng trái phép, nhưng ông Lục không thực hiện, không chấp hành.

UBND phường Phan Đình Phùng có phương án tháo dỡ tài sản số 25/PA-UBND Ngày 31/10/2014, trên các thửa đất đã có quyết định thu hồi trong đó có thửa đất số 75.

Ngày 01/11/2014 Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng chỉ đạo tổ chức lực lượng đến cưỡng chế tháo dỡ công trình đang xây dựng trên thửa đất số 75 đối với hộ gia đình ông Hồ Viết Lục. (Việc thực hiện tháo dỡ tài sản không có quyết định cưỡng chế, không thực hiện lập biên bản tháo dỡ, tài sản tháo dỡ xong không có biên bản giao cho gia đình ông Lục).

Không đồng ý với hành vi hành chính của Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng, ông Lục khởi kiện vụ án hành chính, có yêu cầu:

– Tuyên bố hành vi hành chính ngày 01/11/2014 của Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng đối với gia đình ông là trái pháp luật.

– Buộc Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng bồi thường thiệt hại cho gia đình ông do hành vi trái pháp luật gây ra.

Bản án sơ thẩm số 01/2018/HCST ngày 22/01/2018 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử đã quyết định:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết Lục khởi kiện hành vi hành chính của Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng.
  2. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: Ông Hồ Viết Lục có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật.

Không nhất trí với nội dung bản án, ông Hồ Viết Lục đã có đơn kháng cáo đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, ngày 05/6/2018 vụ án được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến: Xác định hành vi hành chính của Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng thực hiện ngày 01/11/2014, tổ chức cưỡng chế tháo dỡ tài sản trên thửa đất số 75, đối với gia đình ông Hồ Viết Lục là trái pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ông Hồ Viết Lục, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, cụ thể:

– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết Lục, tuyên bố hành vi hành chính do Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng thực hiện ngày 01/11/2014 về việc tổ chức cưỡng chế tháo dỡ tài sản trên thửa đất số 75 của hộ gia đình ông Hồ Viết Lục là trái pháp luật.

– Về yêu cầu bồi thường do chưa đủ điều kiện giải quyết nên tách giải quyết bằng vụ án khác nếu ông Lục có yêu cầu.

Hội đồng xét xử đã chấp nhận, quyết định giải quyết vụ án theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm.

Hộ gia dình ông Hồ Viết Lục quản lý, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 75 có nguồn gốc do gia đình bà Trần Thị Hạnh tự khai phá từ trước năm 1999, đến ngày 15/11/1999 chuyển nhượng lại cho ông Lục, không có xác nhận của chính quyền địa phương, không đủ điều kiện cấp quyền sử dụng đất.

Theo hồ sơ địa chính thửa đất số 75 có tổng diện tích 926 m2, đất chưa sử dụng do UBND phường Phan Đình Phùng quản lý.

Thực hiện dự án xây dựng khu dân cư diều hòa Hồ xương rồng đợt II, UBND tỉnh Thái Nguyên có quyết định số 2959/QĐ-UBND ngày 21/12/2007 về việc thu hồi đất trong đó có thu hồi thửa đất số 75. Cơ quan chính quyền địa phương đã tiến hành thủ tục thu hồi đất, bồi thường tài sản trên đất, tại thời điểm trước năm 2010, trên thửa đất số 75 do UBND phường Phan Đình Phùng quản lý, không có tài sản trên đất.

Năm 2011 hộ gia đình ông Lục đã tiến hành xây dựng công trình nhà xưởng không xin phép chính quyền địa phương trên thửa đất số 75, đã bị Nhà nước thu hồi.

Có đủ căn cứ xác định: Ông Hồ Viết Lục có hành vi xây dựng công trình trên đất không được phép xây dựng, hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt được quy định tại điểm a khoản 7, khoản 10 Điều 7 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng…

Điều 13. Vi phạm quy định về tổ chức thi công xây dựng

  1. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
  2. a) Xây dựng công trình trên đất không được phép xây dựng”;
  3. Hành vi quy định tại Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6 và Khoản 7 Điều này mà không thuộc trường hợp xử lý theo quy định tại Khoản 9 Điều này thì bị xử lý theo quy định tại Nghị định số 180/2007/NĐ-CP.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính của ông Hồ Viết Lục thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 68 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ.

Đến ngày 29/4/2014 UBND phường Phan Đình Phùng phát hiện, hành vi vi phạm hành chính của ông Lục, nhưng UBND phường Phan Đình Phùng không tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 2 Điều 4 Nghị định số 121/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính Phủ quy định, thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đã hết, tuy nhiên hành vi vi phạm hành chính của ông Hồ Viết Lục vẫn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 65; khoản 2 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 10 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ, cụ thể:

 “Điều 28. Các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng

  1. Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
  2. b) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép”.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, khi phát hiện hộ gia đình ông Hồ Viết Lục có hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng, UBND phường Phan Đình Phùng phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 2 Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ xây dựng, để chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt giải quyết theo quy định.

Điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ xây dựng quy định:

“Điều 2. Về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm

  1. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì xử lý như sau:
  2. b) Đối với công trình xây dựng thuộc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Sở Xây dựng, người có thẩm quyền lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 ban hành kèm theo Thông tư này. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình vi phạm phải chuyển hồ sơ lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng vi phạm, chuyển cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện”.

Tuy nhiên UBND thành phố Thái Nguyên không tiến hành thủ tục ban hành quyết định cưỡng chế, mà ban hành thông báo số 219/TB-UBND ngày 17/4/2014 về việc: Giao nhiệm vụ tháo dỡ tài sản trên đất đã giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án khu dân cư Hồ điều hòa xương rồng cho UBND phường Phan Đình Phùng.

UBND phường Phan Đình Phùng lập phương án tháo dỡ số 25/PA-UBND Ngày 31/10/2014.

Ngày 01/11/2014 Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng chỉ đạo lực lượng cưỡng chế đến tháo dỡ công trình xây dựng trên thửa đất số 75 đối với hộ gia đình ông Hồ Viết Lục, trong trường hợp không có quyết định cưỡng chế và không theo trình tự, thủ tục quy định.

Sau khi tháo dỡ các tài sản giao cho gia đình, không lập biên bản bàn giao.

Căn cứ vào Điều 18 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính Phủ quy định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị, quy định:

“Điều 18. Thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

  1. Quyết định cưỡng chế phá dỡ đối với công trình xây dựng vi phạm do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy phép xây dựng hoặc Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng mà công trình xây dựng đó đã bị Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định đình chỉ thi công xây dựng.
  2. Chỉ đạo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện cưỡng chế phá dỡ những công trình xây dựng vi phạm theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và của Chánh thanh tra Sở Xây dựng”.

Từ nội dung trên, xét thấy Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng thực hiện hành vi cưỡng chế tháo dỡ tài sản đối với hộ gia đình ông Hồ Viết Lục thên thửa đất số 75, là không đúng thẩm quyền, không đúng trình tự, thủ tục là trái pháp luật.

Thông qua công tác Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm, Phòng kiểm sát giải quyết án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định giải quyết vụ án không đúng pháp luật, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, có thiếu sót trong công tác kiểm sát sau phiên tòa, không phát hiện được những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, dẫn đến Tòa cấp phúc thẩm phải sửa toàn bộ bản án sơ thẩm. Phòng 10 nêu lên để rút kinh nghiệm chung.

                                                                              Lan Anh- P10

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM Đối với án KDTM bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm Do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.

6 Tháng Sáu, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

1.Nội dung vụ án và kết quả giải quyết vụ án của Tòa án.

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn:

Công ty TNHH Thương Mại Nhật Minh (gọi tắt là Công ty Nhật Minh), có vay của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) tại hợp đồng hạn mức tín dụng số 020/2013/HĐHM-TNG ngày 16/4/2013 với tổng số tiền trên các hợp đồng khế ước nhận nợ còn dư nợ là: 4.295.400.000 đồng. Tài sản bảo đảm khoản vay gồm 02 tài sản, kèm theo hợp đồng thế chấp tài sản.

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Nhật Minh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank, nên toàn bộ dư nợ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn với lãi xuất quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. VPBank đã nhiều lần đôn đốc tạo điều kiện nhưng Công ty Nhật Minh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 24/7/2016 Công ty Nhật Minh còn nợ: 4.753.220.060 đồng (trong đó nợ gốc 3.399.763.132 đ; nợ lãi 1.353.456.928 đ).

Ngày 26/8/2015 VPBank đã bán khoản nợ của Công ty Nhật Minh cho Công ty TNHH-MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC) theo hợp đồng mua bán nợ số 17208/2015/MBN VAMC2-VPBANK. Theo đó VPBank đã chuyển giao quyền yêu cầu Công ty Nhật Minh phải thanh toán khoản nợ cho VAMC.

Sau khi ký kết hợp đồng mua bán nợ, VAMC và VPBank ký kết hợp đồng ủy quyền số 17209/2015/UQ.VAMC2-VPBANK ngày 26/8/2015 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng ủy quyền số 2392/2016/ UQ.VAMC2-VPBANK ngày 18/7/2016, nội dung các hợp đồng ủy quyền, theo đó VAMC ủy quyền cho VPBank có quyền thu hồi nợ, đòi nợ; khởi kiện tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp; làm việc với cơ quan Thi hành án dân sự…giải quyết việc khởi kiện đòi nợ khách hàng vay và các bên có liên quan… VPBank có quyền ủy quyền cho cán bộ, nhân viên của VPBank thực hiện các nội dung được ủy quyền.

Ngày 11/02/2015 ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị-người đại diện theo pháp luật của VPBank, có văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT. Ủy quyền cho các ông: Hoàng Anh Tuấn; Đỗ Thanh Tùng – Đều là Phó giám đốc Khối pháp chế và Kiểm soát tuân thủ VPBank; Và ông Phạm Tuấn Anh –Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở. Thực hiện công việc: Khởi kiện và hoặc tham gia tố tụng các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại…với tư cách là nguyên đơn, bị đơn…Người được ủy quyền có quyền ủy quyền lại công việc được ủy quyền cho cán bộ, nhân viên khác của VPBank…Văn bản ủy quyền có hiệu lực trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 11/02/2015.

Ngày 25/7/2016 Công ty TNHH -MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC), có đơn khởi kiện tư cách là nguyên đơn.

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là: VPBank, theo hợp đồng ủy quyền số 17209/2015/UQ.VAMC2-VPBANK ngày 26/8/2015 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng ủy quyền số 2392/2016/ UQ.VAMC2-VPBANK ngày 18/7/2016, đại diện theo pháp luật là ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở, theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

Người bị kiện là: Công ty TNHH thương Mại Nhật Minh.

Trụ sở: Tầng 1, số nhà 308/1 đường CM tháng 8, tổ 22, phường Phú Xá, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh Minh – Chức vụ Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Đỗ Hoàng Trung và bà Vũ Huyền Ngọc,

2.Ông Đỗ Hoàng Kiên

Đều trú tại: Tổ 28, cụm 5A, An Thành, Yên Phụ, Tây hồ, Hà Nội.

(Nội dung yêu cầu khởi kiện………………………)

Phần cuối đơn khởi kiện ghi:

Người khởi kiện: Công ty TNHH MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam.

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng;

Người đại diện theo ủy quyền: Phó giám đốc trung tâm pháp luật ngân hàng SME cá nhân, VPBANK Hội sở.

Đơn khởi kiện: Do ông Phạm Tuấn Anh ký – (Đơn không đóng dấu).

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án:

-Ngày 26/7/2016 ông Phạm Tuấn Anh có văn bản ủy quyền số 983/2016/UQ-VPB cho các ông: Phạm Thanh Tùng; Vũ Thanh Hải; Phạm Xuân Việt – Đều là cán bộ của VPBank, đại diện cho VPBank tham gia tố tụng theo đơn khởi kiện.

-Và ngày 23/01/2017 ông Phạm Tuấn Anh có văn bản ủy quyền số 1245/2017/UQ-VPB ủy quyền cho các ông, bà: Quách Mạnh Quyết; Nguyễn Vũ Đức; Phạm Thị Tới – Đều là cán bộ của VPBank, đại diện cho VAMC tham gia tố tụng theo đơn khởi kiện.

Ngày 20/11/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm xác định:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn tham gia phiên tòa là:

Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME và cá nhân, VPBank hội sở, theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

Người được ông Phạm Tuấn Anh ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ Đức – Chức vụ cán bộ xử lý nợ ngân hàng, tại văn bản ủy quyền số 1245/UQ-VPB ngày 23/01/2017 tham gia phiên tòa.

Tại bản án số: 06/2017/KDTM-ST ngày 20/11/2017 của TAND thành phố Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

– Buộc Công ty TNHH-Thương mại Nhật Minh phải trả cho Công ty TNHH –MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đến ngày xét xử là: 5.377.772.433 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 3.399.763.132 đ. Tiền lãi: 1.978.009.301 đ). Tài sản thế chấp được xử lý theo quy định của pháp luật bảo đảm thu hồi nợ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án giải quyết theo quy định.

Tại bản án số 01/2018/KDTM-PT ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đã xác định: Việc đơn khởi kiện của Công ty VAMC không có dấu của pháp nhân khởi kiện hoặc dấu của pháp nhân được ủy quyền, cũng như vi phạm về việc ủy quyền cho người tham gia tố tụng tại Tòa án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, do vậy đã quyết định: Hủy bản án kinh doanh thương mại số: 06/2017/KDTM-ST ngày 20/11/2017 của TAND thành phố Thái Nguyên, giao hồ sơ về tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

2.Những nội dung cần rút kinh nghiệm.

2.1.Tòa án cấp sơ thẩm tiếp nhận, thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn có hình thức, nội dung không đúng quy định:

Cụ thể theo đơn khởi kiện thể hiện:

Người khởi kiện: Công ty TNHH -MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC).

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng (VPBank), theo hợp đồng ủy quyền số 17209/2015/UQ.VAMC2-VPBANK ngày 26/8/2015 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng ủy quyền số 2392/2016/ UQ.VAMC2-VPBANK ngày 18/7/2016, đại diện theo pháp luật là ông Ngô Chí Dũng –Chức vụ Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng VPBank theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

Người bị kiện là: Công ty TNHH thương Mại Nhật Minh.

Trụ sở: Tầng 1, số nhà 308/1 đường CM tháng 8, tổ 22, phường Phú Xá, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh Minh – Chức vụ Giám đốc.

(Nội dung yêu cầu khởi kiện………………………)

Phần cuối đơn khởi kiện ghi:

Người khởi kiện: Công ty TNHH- MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam.

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng.

Người đại diện theo ủy quyền: Phó giám đốc trung tâm pháp luật ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở.

Ông Phạm Tuấn Anh – ký đơn khởi kiện (Đơn không đóng dấu của cơ quan, tổ chức là người khởi kiện).

Đơn khởi kiện nêu trên không tuân thủ theo quy định tại khoản 1; khoản 3 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự, quy định:

“Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1.Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

……………………………………………………………………….

  1. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp”.

2.2.Người đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện, thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự vượt quá nội dung văn bản ủy quyền:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ:

Tại văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015 do ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị – Người đại diện theo pháp luật của VPBank. Ủy quyền cho ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở.

Văn bản ủy quyền có nội dung: Người được ủy quyền thực hiện công việc: Khởi kiện và hoặc tham gia tố tụng các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại…với tư cách là nguyên đơn, bị đơn…Người được ủy quyền có quyền ủy quyền lại công việc được ủy quyền cho cán bộ, nhân viên khác của VPBank thực hiện công việc được ủy quyền…Văn bản ủy quyền có hiệu lực trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 11/02/2015. (Như vậy ông Phạm Tuấn Anh chỉ được thực hiện công việc theo văn bản ủy quyền trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 11/02/2015. Từ ngày 12/02/2017 ông Phạm Tuấn Anh không có quyền thực hiện các công việc được ủy quyền tại văn bản ủy trên).

Căn cứ văn bản ủy quyền trên, ngày 23/01/2017 ông Phạm Tuấn Anh tiếp tục có văn bản ủy quyền số 1245/2017/UQ-VPB ủy quyền cho ông, Nguyễn Vũ Đức là cán bộ của VPBank, đại diện cho VAMC tham gia tố tụng theo đơn khởi kiện.

Căn cứ nội dung trên đến ngày 20/11/2017 Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử, đã quá thời hạn 02 năm theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015 do ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị – Người đại diện theo pháp luật của VPBank, như vậy bản thân ông Phạm Tuấn Anh không có quyền tham gia tố tụng, cũng như không có quyền ủy quyền lại cho người khác tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xác định và chấp nhận đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là:

-Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng , SME và cá nhân, VPBank hội sở, theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

-Người được ông Phạm Tuấn Anh ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ Đức – Chức vụ cán bộ xử lý nợ ngân hàng, tại văn bản ủy quyền số 1245/UQ-VPB ngày 23/01/2017 tham gia phiên tòa.

Là vi phạm vào khoản 2 Điều 86 Bộ luật tố tụng dấn sự, quy định:

 “Điều 86. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện

  1. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền”.

Từ nội dung trên, xác định quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, tiếp nhận thụ lý đơn khởi kiện có hình thức, nội dung không đúng quy định, xác định và cho người đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện, thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự vượt quá nội dung văn bản ủy quyền. Dẫn đến cấp phúc thẩm phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.

Quá trình kiểm sát giải quyết vụ án KDTM nêu trên Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, có thiếu sót trong công tác kiểm sát sau phiên tòa, không phát hiện được những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm.

Phòng 10 nêu lên để các Viện Kiểm sát ND huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Thái Nguyên nghiên cứu rút kinh nghiệm chung./.

                                                                      Lan Anh – P10

Rút kinh nghiệm trong việc ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án KDTM của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng quy định của pháp luật

5 Tháng Sáu, 2018 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua công tác kiểm sát quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số: 01/2018/QĐST – DS ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, đối với vụ án KDTM thụ lý số 13/KDTMST ngày 20/4/2016 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.

Địa chỉ: Tầng 1, 7 Tòa án Thủ Đô, số 72 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàng Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tân Cương – Cán bộ ngân hàng.

Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân Linh Mạnh.

Địa chỉ: Tổ 18, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên.

Đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.

1.Nhận thấy:

Ngày 07/02/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án Kinh doanh thương mại nêu trên ra xét xử, tại phiên tòa Nguyên đơn rút toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn,  Hội đồng xét xử chấp nhận đơn đề nghị rút đơn khởi kiện của Nguyên đơn.

Tòa án nhân dân thành phổ Thái Nguyên đã căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 237 của Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nêu trên.

Quyết định có ghi:

“TÒA ÁN ND TP THÁI NGUYÊN            ………………………………………………

         TỈNH THÁI NGUYÊN

    

     Số: 01/2018/QĐST-DS

   …………………………………

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Hưởng

                                          Bà Hà Thị Dung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố: Ông Hoàng Mạnh Thái – Kiểm sát viên.

…………………………………….”

Từ nội dung trên xét thấy việc Tòa án nhân dân thành phổ Thái Nguyên ban hành quyết định quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2018/QĐST – DS ngày 07/02/2018 không đúng quy định của pháp luật, đã đề xuất, được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành kiến nghị số 46/KN-VKS ngày 23/4/2018 yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên chỉ đạo kiểm điểm, rút kinh nghiệm, không để vi phạm tương tự xảy ra. Cần nêu lên để rút kinh nghiệm chung trong công tác kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm nói chung.

2.Những nội dung cấn rút kinh nghiệm:

2.1.Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ghi số, ký hiệu và trích yếu trong quyết định không đúng quy định:

Tại Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 / 01/ 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) có quy định ghi số, ký hiệu và trích yếu trong quyết định :

“………………….…………………

Số……../QĐST-………. (2)

……………………………………………………”

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 46-DS:

 (2) Ô thứ nhất ghi số, ô thứ hai ghi năm ra quyết định (ví dụ: số 02/2017/QĐST – KDTM)”.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2018/QĐST – DS ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, có ghi:

 

“TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Số: 01/2018/QĐST-DS”

………………….

Đây là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại, nên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ghi số, ký hiệu và trích yếu trong quyết định như trên là không đúng quy định theo Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 / 01/ 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

2.2.Căn cứ pháp luật ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án KDTM, không đúng và thiếu căn cứ pháp luật.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, có ghi căn cứ pháp luật ban hành quyết định:

“………………………………………

Căn cứ vào các điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 237 của Bộ luật tố tụng dân sự.

……………..………………………….”

-Khoản 2 Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“Điều 237. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa

Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký phiên tòa phải tiến hành các công việc sau đây:

  1. Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do”.

Nội dung khoản 2 Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự (viện dẫn trên) không phải là căn cứ để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

-Không nêu căn cứ pháp luật quyền kháng cáo của đương sự đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, quy định:

“Điều 273. Thời hạn kháng cáo

  1. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này”.

Quyết định nêu trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 237BLTTDS để ban hành là không chính xác và không căn cứ khoản 2 Điều 273 BLTTDS để ban hành quyết định là thiếu căn cứ pháp luật.

Việc căn cứ pháp luật để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên của Tòa án ND thành phố Thái Nguyên là không tuân thủ quy định theo Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 / 01/ 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Cụ thể:

 

“QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN ……..

……………………………………………………………………………………….

Căn cứ vào các điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

……………………………………”

2.3.Ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án KDTM, ghi thành phần Hội đồng xét xử ban hành quyết định không đúng quy định của pháp luật:

Quyết định quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên trong trường hợp: Do Hội đồng xét xử quyết định tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 235 BLTTDS năm 2015:

“Điều 235. Thủ tục ra bản án và quyết định của Tòa án tại phiên tòa

  1. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm ngừng phiên tòa phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản”.

Căn cứ vào quy định trên, tại phiên tòa xét thấy có căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, thì Hội đồng xét xử quy định theo Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự ban hành quyết định.

 Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“Điều 63. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”.

Tuy nhiên, tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, có ghi:

“…………………………………………….

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Hưởng

                                          Bà Hà Thị Dung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố: Ông Hoàng Mạnh Thái – Kiểm sát viên”.

Như vậy theo nội dung quyết định nêu trên, thành phần Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xác định gồm: “Một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân và thư ký ghi biên bản phiên tòa; đại diện viện kiểm sát nhân dân”. Là không đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự (như viện dẫn trên).

Quá trình kiểm sát quyết định đình chỉ giải quyết vụ án KDTM nêu trên Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, có thiếu sót trong công tác kiểm sát quyết định, không phát hiện được những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện chức năng kiến nghị, kháng nghị theo quy định.

                                                         Lan Anh – P10

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM Đối với án KDTM bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm Do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.

31 Tháng Năm, 2018 Thông Tin Tuyên Truyền

1.Nội dung vụ án và kết quả giải quyết vụ án của Tòa án.

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn:

Công ty TNHH Thương Mại Nhật Minh (gọi tắt là Công ty Nhật Minh), có vay của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) tại hợp đồng hạn mức tín dụng số 020/2013/HĐHM-TNG ngày 16/4/2013 với tổng số tiền trên các hợp đồng khế ước nhận nợ còn dư nợ là: 4.295.400.000 đồng. Tài sản bảo đảm khoản vay gồm 02 tài sản, kèm theo hợp đồng thế chấp tài sản.

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Nhật Minh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank, nên toàn bộ dư nợ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn với lãi xuất quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. VPBank đã nhiều lần đôn đốc tạo điều kiện nhưng Công ty Nhật Minh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 24/7/2016 Công ty Nhật Minh còn nợ: 4.753.220.060 đồng (trong đó nợ gốc 3.399.763.132 đ; nợ lãi 1.353.456.928 đ).

Ngày 26/8/2015 VPBank đã bán khoản nợ của Công ty Nhật Minh cho Công ty TNHH-MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC) theo hợp đồng mua bán nợ số 17208/2015/MBN VAMC2-VPBANK. Theo đó VPBank đã chuyển giao quyền yêu cầu Công ty Nhật Minh phải thanh toán khoản nợ cho VAMC.

Sau khi ký kết hợp đồng mua bán nợ, VAMC và VPBank ký kết hợp đồng ủy quyền số 17209/2015/UQ.VAMC2-VPBANK ngày 26/8/2015 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng ủy quyền số 2392/2016/ UQ.VAMC2-VPBANK ngày 18/7/2016, nội dung các hợp đồng ủy quyền, theo đó VAMC ủy quyền cho VPBank có quyền thu hồi nợ, đòi nợ; khởi kiện tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp; làm việc với cơ quan Thi hành án dân sự…giải quyết việc khởi kiện đòi nợ khách hàng vay và các bên có liên quan… VPBank có quyền ủy quyền cho cán bộ, nhân viên của VPBank thực hiện các nội dung được ủy quyền.

Ngày 11/02/2015 ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị-người đại diện theo pháp luật của VPBank, có văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT. Ủy quyền cho các ông: Hoàng Anh Tuấn; Đỗ Thanh Tùng – Đều là Phó giám đốc Khối pháp chế và Kiểm soát tuân thủ VPBank; Và ông Phạm Tuấn Anh –Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở. Thực hiện công việc: Khởi kiện và hoặc tham gia tố tụng các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại…với tư cách là nguyên đơn, bị đơn…Người được ủy quyền có quyền ủy quyền lại công việc được ủy quyền cho cán bộ, nhân viên khác của VPBank…Văn bản ủy quyền có hiệu lực trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 11/02/2015.

Ngày 25/7/2016 Công ty TNHH -MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC), có đơn khởi kiện tư cách là nguyên đơn.

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là: VPBank, theo hợp đồng ủy quyền số 17209/2015/UQ.VAMC2-VPBANK ngày 26/8/2015 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng ủy quyền số 2392/2016/ UQ.VAMC2-VPBANK ngày 18/7/2016, đại diện theo pháp luật là ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở, theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

Người bị kiện là: Công ty TNHH thương Mại Nhật Minh.

Trụ sở: Tầng 1, số nhà 308/1 đường CM tháng 8, tổ 22, phường Phú Xá, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh Minh – Chức vụ Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Đỗ Hoàng Trung và bà Vũ Huyền Ngọc,

2.Ông Đỗ Hoàng Kiên

Đều trú tại: Tổ 28, cụm 5A, An Thành, Yên Phụ, Tây hồ, Hà Nội.

(Nội dung yêu cầu khởi kiện………………………)

Phần cuối đơn khởi kiện ghi:

Người khởi kiện: Công ty TNHH MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam.

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng;

Người đại diện theo ủy quyền: Phó giám đốc trung tâm pháp luật ngân hàng SME cá nhân, VPBANK Hội sở.

Đơn khởi kiện: Do ông Phạm Tuấn Anh ký – (Đơn không đóng dấu).

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án:

-Ngày 26/7/2016 ông Phạm Tuấn Anh có văn bản ủy quyền số 983/2016/UQ-VPB cho các ông: Phạm Thanh Tùng; Vũ Thanh Hải; Phạm Xuân Việt – Đều là cán bộ của VPBank, đại diện cho VPBank tham gia tố tụng theo đơn khởi kiện.

-Và ngày 23/01/2017 ông Phạm Tuấn Anh có văn bản ủy quyền số 1245/2017/UQ-VPB ủy quyền cho các ông, bà: Quách Mạnh Quyết; Nguyễn Vũ Đức; Phạm Thị Tới – Đều là cán bộ của VPBank, đại diện cho VAMC tham gia tố tụng theo đơn khởi kiện.

Ngày 20/11/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm xác định:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn tham gia phiên tòa là:

Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME và cá nhân, VPBank hội sở, theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

Người được ông Phạm Tuấn Anh ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ Đức – Chức vụ cán bộ xử lý nợ ngân hàng, tại văn bản ủy quyền số 1245/UQ-VPB ngày 23/01/2017 tham gia phiên tòa.

Tại bản án số: 06/2017/KDTM-ST ngày 20/11/2017 của TAND thành phố Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

– Buộc Công ty TNHH-Thương mại Nhật Minh phải trả cho Công ty TNHH –MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đến ngày xét xử là: 5.377.772.433 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 3.399.763.132 đ. Tiền lãi: 1.978.009.301 đ). Tài sản thế chấp được xử lý theo quy định của pháp luật bảo đảm thu hồi nợ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án giải quyết theo quy định.

Tại bản án số 01/2018/KDTM-PT ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đã xác định: Việc đơn khởi kiện của Công ty VAMC không có dấu của pháp nhân khởi kiện hoặc dấu của pháp nhân được ủy quyền, cũng như vi phạm về việc ủy quyền cho người tham gia tố tụng tại Tòa án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, do vậy đã quyết định: Hủy bản án kinh doanh thương mại số: 06/2017/KDTM-ST ngày 20/11/2017 của TAND thành phố Thái Nguyên, giao hồ sơ về tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

2.Những nội dung cần rút kinh nghiệm.

2.1.Tòa án cấp sơ thẩm tiếp nhận, thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn có hình thức, nội dung không đúng quy định:

Cụ thể theo đơn khởi kiện thể hiện:

Người khởi kiện: Công ty TNHH -MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC).

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng (VPBank), theo hợp đồng ủy quyền số 17209/2015/UQ.VAMC2-VPBANK ngày 26/8/2015 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng ủy quyền số 2392/2016/ UQ.VAMC2-VPBANK ngày 18/7/2016, đại diện theo pháp luật là ông Ngô Chí Dũng –Chức vụ Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng VPBank theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

Người bị kiện là: Công ty TNHH thương Mại Nhật Minh.

Trụ sở: Tầng 1, số nhà 308/1 đường CM tháng 8, tổ 22, phường Phú Xá, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh Minh – Chức vụ Giám đốc.

(Nội dung yêu cầu khởi kiện………………………)

Phần cuối đơn khởi kiện ghi:

Người khởi kiện: Công ty TNHH- MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam.

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng.

Người đại diện theo ủy quyền: Phó giám đốc trung tâm pháp luật ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở.

Ông Phạm Tuấn Anh – ký đơn khởi kiện (Đơn không đóng dấu của cơ quan, tổ chức là người khởi kiện).

Đơn khởi kiện nêu trên không tuân thủ theo quy định tại khoản 1; khoản 3 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự, quy định:

“Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1.Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

……………………………………………………………………….

  1. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp”.

2.2.Người đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện, thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự vượt quá nội dung văn bản ủy quyền:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ:

Tại văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015 do ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị – Người đại diện theo pháp luật của VPBank. Ủy quyền cho ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân, VPBank Hội sở.

Văn bản ủy quyền có nội dung: Người được ủy quyền thực hiện công việc: Khởi kiện và hoặc tham gia tố tụng các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại…với tư cách là nguyên đơn, bị đơn…Người được ủy quyền có quyền ủy quyền lại công việc được ủy quyền cho cán bộ, nhân viên khác của VPBank thực hiện công việc được ủy quyền…Văn bản ủy quyền có hiệu lực trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 11/02/2015. (Như vậy ông Phạm Tuấn Anh chỉ được thực hiện công việc theo văn bản ủy quyền trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 11/02/2015. Từ ngày 12/02/2017 ông Phạm Tuấn Anh không có quyền thực hiện các công việc được ủy quyền tại văn bản ủy trên).

Căn cứ văn bản ủy quyền trên, ngày 23/01/2017 ông Phạm Tuấn Anh tiếp tục có văn bản ủy quyền số 1245/2017/UQ-VPB ủy quyền cho ông, Nguyễn Vũ Đức là cán bộ của VPBank, đại diện cho VAMC tham gia tố tụng theo đơn khởi kiện.

Căn cứ nội dung trên đến ngày 20/11/2017 Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử, đã quá thời hạn 02 năm theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015 do ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị – Người đại diện theo pháp luật của VPBank, như vậy bản thân ông Phạm Tuấn Anh không có quyền tham gia tố tụng, cũng như không có quyền ủy quyền lại cho người khác tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xác định và chấp nhận đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là:

-Ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng , SME và cá nhân, VPBank hội sở, theo văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015.

-Người được ông Phạm Tuấn Anh ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ Đức – Chức vụ cán bộ xử lý nợ ngân hàng, tại văn bản ủy quyền số 1245/UQ-VPB ngày 23/01/2017 tham gia phiên tòa.

Là vi phạm vào khoản 2 Điều 86 Bộ luật tố tụng dấn sự, quy định:

Điều 86. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện

  1. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền”.

Từ nội dung trên, xác định quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, tiếp nhận thụ lý đơn khởi kiện có hình thức, nội dung không đúng quy định, xác định và cho người đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện, thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự vượt quá nội dung văn bản ủy quyền. Dẫn đến cấp phúc thẩm phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.

Quá trình kiểm sát giải quyết vụ án KDTM nêu trên Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, có thiếu sót trong công tác kiểm sát sau phiên tòa, không phát hiện được những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm.

Phòng 10 nêu lên để các Viện Kiểm sát ND huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Thái Nguyên nghiên cứu rút kinh nghiệm chung./.

                                                                      Lan Anh- P10

Thông qua công tác kiểm sát các bản án, quyết định của cấp sơ thẩm, Phòng 10 ban hành kiến nghị trong việc Vi phạm trong viêc ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

9 Tháng Năm, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 07/02/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án Kinh doanh thương mại giữa: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân Linh Mạnh ra xét xử. Tại phiên tòa Nguyên đơn rút toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn đề nghị rút đơn khởi kiện của Nguyên đơn. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 237 của Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nêu trên, tại Quyết định có ghi:

“…………………….

Số: 01/QĐST-DS

…………………………………

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Hưởng

                                          Bà Hà Thị Dung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố: Ông Hoàng Mạnh Thái – Kiểm sát viên”.

Xét thấy:

Đây là Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại do Hội đồng xét xử quyết định tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 235 BLTTDS năm 2015:

“Điều 235. Thủ tục ra bản án và quyết định của Tòa án tại phiên tòa

  1. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm ngừng phiên tòa phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản”.

Căn cứ vào quy định trên, tại phiên tòa xét thấy có căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, thì Hội đồng xét xử quyết định.

Tại Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định.

“Điều 63. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”.

(Như vậy theo quy định trên, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không có thư ký phiên tòa và không có đại diện VKS – Kiểm sát viên)

Căn cứ nội dung mẫu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Hội đồng xét xử ban hành, quy định tại Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) có ghi:

          “…………………

       Số……../QĐST-………. (2)

  ……………………………………………………

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông (Bà)………………………………..

Thẩm phán (nếu Hội đồng xét xử gồm có 5 người): Ông (Bà)……………

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông (Bà)…………………………………………………………………………

2.Ông (Bà)…………………………………………………………………………

3.Ông (Bà)…………………………………………………………………………

Căn cứ vào các điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự”;

…………………………………………………………………………………………………………

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 46-DS:

 (2) Ô thứ nhất ghi số, ô thứ hai ghi năm ra quyết định (ví dụ: số 02/2017/QĐST – KDTM)”.

Căn cứ khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định:

“Điều 3. Về cách ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án, quyết định dân sự

Ngoài việc ghi số và năm ban hành bản án, quyết định thì ký hiệu và trích yếu trong bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được ghi như sau:

  1. Đối với bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, thì việc ghi ký hiệu và trích yếu được thực hiện tương tự như việc ghi ký hiệu và trích yếu đối với bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về dân sự, nhưng thay ký hiệu “DS” bằng ký hiệu tranh chấp hoặc yêu cầu tương ứng: “HNGĐ”; “KDTM”; “LĐ”.

Ví dụ: Đối với bản án sơ thẩm giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại thì ghi: Số: 09/2013/KDTM-ST”.

Căn cứ vào quy định của các Điều luật; quy định vào Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017, số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, nêu trên thấy rằng:

Việc Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số: 01/2018/QĐST-DS ngày 07/02/2018 đối với vụ án thụ lý số 13/KDTMST ngày 20/4/2016 nêu trên, đã vi phạm vào quy định tại Điều 63; khoản 2 Điều 235, thiếu căn cứ quy định tại  khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, và không đúng quy định tại Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 / 01/ 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao) và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Vì vậy, để đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án theo Bộ luật tố tụng dân sự được thống nhất, đúng quy định của pháp luật. Phòng 10 đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện tỉnh ban hành kiến nghị yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có biện pháp chỉ đạo, kiểm điểm rút kinh nghiệm những vi phạm nêu trên, không để xảy ra vi phạm tương tự./.

                                                                        Lan Anh- Phòng 10

RÚT KINH NGHIỆM: Trong công tác kiểm sát quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính không phát hiện được vi phạm, cấp phúc thẩm xét hủy quyết định,giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.VKS không thực hiện được quyền kháng nghị

23 Tháng Tư, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Thông qua công tác Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm, nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tài liệu, chứng cứ không chính xác dẫn đến ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính không đúng pháp luật tố tụng hành chính, quyết định giải quyết vụ án không đúng pháp luật, không bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đương sự, dẫn đến cấp phúc thẩm phải hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, VKS cùng cấp không phát hiện được vi phạm để thực hiện quyền kháng nghị, cần nêu lên để rút kinh nghiệm chung.

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết vụ án của Tòa án.

Ngày 23/3/2018 Tòa án nhân dân tỉnh T thụ lý giải quyết kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 01/2017/QĐST-HC ngày 25/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện P về việc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý vụ án số 02/2017/TLST-HC ngày 03/11/2017, giữa: Người khởi kiện là Cao Thị Thanh H và người bị kiện là Trưởng Công an huyện P, tỉnh T.

Tại phiên họp phúc thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên họp có quan điểm:

Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của người khởi kiện. Áp dụng điểm c khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh T quyết định chấp nhận kháng cáo của chị Cao Thị Thanh H, hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân huyện P, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân tỉnh T đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

2.Những nội dung cần rút kinh nghiệm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy:

 Ngày 06/10/2016 chị Cao Thị Thanh H nhận được quyết định số 0081953/QĐ-XPHC ngày 14/9/2016 của Trưởng công an huyện P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với mình, về hành vi vi phạm gây thương tích cho người khác.

Không nhất trí với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ngày 05/4/2017 chị H có đơn khiếu nại gửi Giám đốc Công an tỉnh T đề nghị xem xét lại việc Trưởng CA huyện P xử phạt hành chính, được Giám đốc Công an tỉnh T chấp nhận, chuyển đơn về Công an huyện P giải quyết theo quy định của pháp luật.

 Trưởng Công an huyện P có văn bản số 274/CSĐT Ngày 26/4/2017 về việc trả lời đơn chị H, nội dung không nhất trí với yêu cầu của chị H, xác định: Việc Trưởng Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính đối với chị H là đúng pháp luật.

Không nhất trí với nội dung trả lời đơn khiếu nại của Trưởng Công an huyện P. Ngày 05/10/2017 Chị H gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân huyện P, có yêu cầu giải quyết hủy quyết định số 0081953/QĐ-XPHC ngày 14/9/2016 của Trưởng Công an huyện P, về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với chị.

Tòa án nhân dân huyện P thụ lý vụ án hành chính đối với đơn khởi kiện của chị H. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào Điều 143; Điều 144 Tòa án nhân dân huyện P ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, lý do: Thời hiệu khởi kiện đã hết.

Xét lý do Tòa án nhân dân huyện P  ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, thấy:

+Ngày 06/10/2016 chị H nhận được QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 0081953/QĐ-XPHC ngày 14/9/2016 của Trưởng CA huyện P. Đến ngày 05/10/2017 Chị H gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân huyện P, thời hạn khởi kiện tính từ ngày 07/10/2016, đến ngày 05/10/2017, trong thời hạn là 01 năm. Như vậy đơn khởi kiện vụ án hành chính của chị Cao Thị Thanh H trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

+ Ngày 26/4/2017 Trưởng Công an huyện P có văn bản số 274/CSĐT về việc trả lời đơn của chị H, nội dung không nhất trí với khiếu nại của chị H, Đến ngày 05/10/2017 Chị H gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân huyện P,  thời hạn tính từ ngày 27/4/2017, đến ngày 05/10/2017, trong thời hạn là 01 năm. Như vậy đơn khởi kiện vụ án hành chính của chị H trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Tại điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính quy định:

”Điều 116. Thời hiệu khởi kiện

  1. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
  2. a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
  3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:
  4. a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

Do đó Tòa án nhân dân huyện P căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với lý do đơn khởi kiện hết thời hiệu khởi kiện là trái pháp luật.

Quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án, Viện kiểm sát cùng cấp không phát hiện được vi phạm nghiêm trọng tố tụng hành chính trong việc ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên của Tòa án nhân dân huyện P để thực hiện chức năng kháng nghị.

                                           Lan anh- P10

      

Page 1 of 212