RÚT KINH NGHIỆM Trong việc ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Đối với bản án sơ thẩm không có căn cứ pháp luật.

17 Tháng Mười Hai, 2020 Trao Đổi Pháp Luật

Thông qua công tác xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án Kinh doanh thương mại đối với bản án số 01/2018/KDTM ngày 21/6/2018 TAND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên bị kháng nghị, kháng cáo.

Nội dung vụ kiện như sau:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/11/2015 và đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 05/05/2016, đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 30/6/2016, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bắc Kạn (Gọi tắt là Ngân hàng) thể hiện nội dung:

Ngày 24/9/2012 Công ty TNHH Thiết bị điện Hàn Việt (Gọi tắt là Công ty Hàn Việt) có trụ sở tại Khối phố II, phường Phố Cò, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã ký kết hợp đồng tín dụng số 11.12/HĐTD-DN với Ngân hàng với hạn mức cho vay là 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng). Thời hạn vay theo khế ước nhận nợ, duy trì hạn mức cho vay: 12 tháng (kể từ ngày 24/9/2012 đến 24/9/2013), các loại phương thức áp dụng lãi suất cho vay thả nổi, lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng số 11.12/HĐTD-DN tại thời điểm ký hợp đồng là 13,5% năm.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên bao gồm:

– Quyền sử dụng số: S 341409 diện tích 837m2, loại đất: đất ở, đất vườn và nhà ở gắn liền với đất thuộc thửa số 36, 36a, tờ bản đồ 62-IV địa chỉ tại tổ 13, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông (bà) Trần Thanh Liêm do UBND tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25 tháng 12 năm 2000. Giấy phép xây dựng số 1026/GPXD ngày 09/9/2011 tổng giá trị tài sản thế chấp theo biên bản định giá ngày 21/9/2012 là 5.448.100.000 đồng.

Tài sản đảm bảo trên đã được hai bên ký kết Hợp đồng thế chấp số: 20.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 và đăng kí giao dịch bảo đảm theo quy định, bảo đảm khoản tiền vay tối đa: 2.724.000.000 đồng.

– Quyền sử dụng đất số: AC 626016  diện tích 100m2, loại đất: đất ở; đất thuộc thửa số 117, tờ bản đồ 49-IV địa chỉ tại tổ 03, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị Liên và ông  Đào Văn Soạn do UBND thành phố Sông Công cấp ngày 01/11/2005, giá trị tài sản thế chấp theo biên bản định giá ngày 21/9/2012 là 1,500.000.000đồng ( Một tỷ năm trăm triệu đồng chẵn).

Tài sản đảm bảo trên đã được hai bên ký kết Hợp đồng thế chấp số:  19.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Đối với quyền sử dụng đất số AC 626016 Ngân hàng đã rút một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án không đưa bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn vào tham gia tố tụng do bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn đã thanh toán xong phần dư nợ liên quan đến khối tài sản này.

Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, Công ty Hàn Việt đã vi phạm các điều khoản cam kết: Không trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Công ty Hàn Việt và các bên thế chấp gồm chị Chuyền và anh Liêm đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng.

Nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Sông Công giải quyết những vấn đề sau:

  1. Buộc Công ty Hàn Việt và các bên có nghĩa vụ liên quan trả toàn bộ số nợ gốc là 3.400.000.000đ và nợ lãi trong hạn 1.098.402.778đ và lãi quá hạn 427.873.611đ. Tổng cả gốc và lãi là 4.926.276.389đ (Bốn tỷ chín trăm hai mươi sáu triệu hai trăm bẩy mươi sáu nghìn ba trăn tám mươi chín đồng tính đến ngày 05/05/2016. Và lãi phát sinh sau ngày 05/05/2016 theo hợp đồng tín dụng đã ký.

Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên Tòa Ngân hàng thay đổi nội dung khởi kiện, có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu xử lý tài sản của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn vì đã thanh toán xong phần dư nợ liên quan đến khối tài sản này.

Ngân hàng đề nghị buộc Công ty Hàn Việt và hộ gia đình ông Trần Thanh Liêm có nghĩa vụ liên quan trả toàn bộ số nợ gốc là 2.870.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn 1.662.470.278đồngvà lãi quá hạn 709.907.361 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 5.242.377.639 đồng, tính đến ngày 20/6/2018 và lãi phát sinh sau ngày 20/6/2018 theo hợp đồng tín dụng đã ký.

2.Trường hợp Công ty Hàn Việt và các bên có nghĩa vụ liên quan không trả nợ theo phán quyết có hiệu lực của Tòa án nhân dân có  thẩm quyền thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý kê biên và phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất số: S 341409 diện tích 837m2, loại đất: đất ở, đất vườn và nhà ở gắn liền với đất thuộc thửa số 36; 36a, tờ bản đồ 62-IV địa chỉ lô đất tại tổ 13, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông (bà) Trần Thanh Liêm do UBND tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25 tháng 12 năm 2000. Giấy phép xây dựng số 1026/GPXD ngày 09/9/2011để xử lý thu hồi nợ.

Tại bản án số 01/2018/KDTM ngày 21/6/2018 TAND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với tài sản thế chấp của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn.

 Đình chỉ một phần yêu cầu giải quyết vụ án của Ngân hàng đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 19.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với Công ty Hàn Việt. Buộc Công ty Hàn Việt, đại diện theo pháp luật là ông Đào Viết Duẩn- Giám đốc, có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 11.12/HĐTD-DN ngày 24/9/2012, tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2018 là: 5.242.377.639 đồng (năm tỷ, hai trăm bốn mươi hai triệu, ba trăm bảy mươi bảy nghìn, sáu trăm ba mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc là 2.870.000.000đồng, nợ lãi trong hạn 1.662.470.278 đồng và lãi quá hạn 709.907.361 đồng.

Công ty Hàn Việt đại diện là ông Đào Viết Duẩn phải tiếp tục chịu lãi suất kể từ sau ngày 20/6/2018 đối với khoản nợ gốc 2.870.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 11.12/HĐTD-DN ngày 24/9/2012.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc được thực hiện quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm trong Hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 để xử lý thu hồi nợ cho khoản vay của Công ty Hàn Việt theo Hợp đồng tín dụng số 11.12/HĐTD-DN ngày 24/9/2012, do hợp đồng thế chấp bị vô hiệu.

– Buộc Ngân hàng có trách nhiệm trả lại đầy đủ giấy tờ có giá trị cho hộ gia đình anh Trần Thanh Liêm (anh Liêm đại diện) là 01 Giấy CNQSD đất số S 341409 do UBND tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25/12/2000.

  1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Rỹ.

Tuyên bố: Hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàng với anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền bị vô hiệu.

Bản án còn tuyên xử về chế định chi phí thẩm định, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

– Viện trưởng VKSND thành phố Sông công, tỉnh Thái Nguyên có quyết định kháng nghị số 01/QĐKN-VKS-DS ngày 04/7/2018, có nội dung xác định những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm như sau:

+ Tòa án tuyên xử hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàng với anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền bị vô hiệu. Nhưng không xác định lỗi trong hợp đồng vô hiệu để làm căn cứ giải quyết hậu quả là vi phạm vào khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2005; khoản 4 Điều 131 BLDS 2015.

+ Bản án tuyên chấp nhận rút một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với tài sản thế chấp của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn, đình chỉ một phần yêu cầu giải quyết vụ án của Ngân hàng đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 19.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn. Là vi phạm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5; khoản 2 Điều 244 BLTTDS.

+ Căn cứ áp dụng pháp luật thiếu khoản 1 Điều 357 BLTTDS năm 2015 về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử theo trình tự phúc thẩm theo hướng sửa một phần bản án về việc xác định trách nhiệm bên có lỗi trong trường hợp hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàng với anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền bị vô hiệu. Đình chỉ phần yêu cầu giải quyết vụ án của Ngân hang đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 19.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn. (Tuy nhiên kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Sông công không nêu được nội dung các bên tham gia ký kết hợp đồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, bên nào có lỗi và hậu quả do hợp đồng vô hiệu gây nên).

– Nguyên đơn Ngân hàng có đơn kháng cáo, không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm về việc Tuyên bố: Hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàng với anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền bị vô hiệu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên có ý kiến rút toàn bộ nội dung kháng nghị số 01/QĐKN-VKS-DS ngày 04/7/2018 của  Viện trưởng VKSND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét xử sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 3 Điều 284; điểm b khoản 1 Điều 289; Điều 295; khoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về  mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Quyết định:

– Đình chỉ xét xử đối với kháng nghị số 01/QĐKN-VKS-DS ngày 04/7/2018 của VKSND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên rút toàn bộ nội dung kháng nghị.

– Chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam, sửa một phần bản án sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 21/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, theo hướng:

+ Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc được thực hiện quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm trong Hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 để xử lý thu hồi nợ cho khoản vay của Công ty Hàn Việt theo Hợp đồng tín dụng số 11.12/HĐTD-DN ngày 24/9/2012.

+ Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Rỹ về yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàng với anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền là vô hiệu.

Các nội dung khác không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

– Tại bản án số 04/2018/KDTM-PT ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng khoản 3 Điều 308 BLTTDS chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn NHTM-CP Công thương Việt nam. Hủy án sơ thẩm. Áp dung Điều 48 Nghị quyết 326 của UBTVQH tuyên xử:

  1. Hủy bản án KDTM sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 21/6/2018 TAND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Giao hồ sơ về TAND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

(Lý do hủy bản án: DoTòa án cấp sơ thẩm vi phạm về đường lối giải quyết mà không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm)

Căn cứ vào nội dung bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên có báo cáo số 02/BC-VKS-KN ngày 13/12/2018, về việc đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà nội kháng nghị bản án số 04/2018/KDTM-PT ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo trình tự giám đốc  thẩm, theo hướng: Hủy toàn bộ bản án phúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã ban hành kháng nghị giám đốc thẩm số 10/QĐKNGĐT-VC1-KDTM ngày 18/11/2020, đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà nội xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, theo hướng: Hủy toàn bộ bản án phúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm lại theo quy định tại khoản 3 Điều 343 BLTTDS 2015.

Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

Kháng nghị số 01/QĐKN-VKS-DS ngày 04/7/2018, của Viện trưởng VKSND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên là đúng thẩm quyền, trong thời hạn, quy định tại Điều 278; khoản 1 Điều 280 BLTTDS-2015.

Xét nội dung kháng nghị:

  1. Nội dung kháng nghị thứ nhất: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàngvới anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền bị vô hiệu, đã quyết định buộc Ngân hàng có trách nhiệm trả lại đầy đủ giấy tờ có giá trị cho hộ gia đình anh Trần Thanh Liêm: 01 Giấy CNQSD đất số S 341409 do UBND tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25/12/2000. Là phù hợp với Điều 137 BLDS năm 2005. Bởi lẽ trong trường hợp này Tòa án xác định hợp đồng thế chấp sai về hình thức (Là hợp đồng bảo lãnh, không phải là hợp đồng thế chấp) bên nhận thế chấp Ngân hàng không quản lý, sử dụng tài sản thế chấp, bên thế chấp không phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo cho khoản vay của bên vay vốn (bị đơn) là Công ty Hàn Việt, khi hợp đồng thế chấp bị vô hiệu, được quy định trong hợp đồng thế chấp.

Hợp đồng thế chấp tài sản các bên ký kết bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử vô hiệu, chưa gây thiệt hại, các khoản vay của Ngân hang do bên vay vốn là Công ty Hàn Việt vẫn phải có nghĩa vụ trả và đã được Tòa án quyết định theo bản án.

“Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

  1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
  2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.

Do đó nội dung kháng nghị: Tòa án ND thành phố Sông Công không xác định lỗi trong hợp đồng vô hiệu để làm căn cứ giải quyết hậu quả là vi phạm vào khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2005. Tuy nhiên kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Sông công không phân tích, đánh giá được các bên tham gia ký kết hợp đồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, bên nào có lỗi và hậu quả do hợp đồng vô hiệu gây nên. Do đó nội dung kháng nghị trên là không có căn cứ pháp luật.

  1. Nội dung kháng nghị thứ hai: Tòa án tuyên xử đình chỉ một phần yêu cầu giải quyết vụ án của Ngân hàng đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 19.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn. Là vi phạm vào Điều 5; khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015.

Xét thấy quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm, Nguyên đơn có đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 19.12HĐTC-CN ngày 21/ 9/ 2012 của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn, căn cứ vào hồ sơ vụ án, xét thấy: Việc rút yêu cầu khởi kiện trên là một trong nhiều nội dung khởi kiện trong đơn khởi kiện, việc rút yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không có yêu cầu độc lập đối với nội dung rút yêu cầu khởi kiện.

Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định:

– Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với tài sản thế chấp của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn.

– Đình chỉ một phần yêu cầu giải quyết vụ án của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 19.12HĐTC-CN ngày 21 tháng 9 năm 2012 của bà Nguyễn Thị Liên và ông Đào Văn Soạn. Là đúng quy định tại Điều 5; khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015 quy định:

“Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

  1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
  2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”.

“Điều 244. Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu

  1. Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”.

Nên nội dung kháng nghị trên của Viện trưởng VKSND thành phố Sông Công là không có căn cứ pháp luật.

  1. Nội dung kháng nghị thứ ba: Tòa án thành phố Sông Công áp dụng pháp luật thiếu khoản 1 Điều 357 BLTTDS năm 2015 về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

 Điều 357 BLTTDS 2015 quy định:

“Điều 357. Áp dụng các quy định về thủ tục giám đốc thẩm

Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực hiện như các quy định của Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm”.

(Điều 357 BLTTDS 2015 không quy định về chế định trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền), nên nội dung kháng nghị này không có căn cứ pháp luật .

Từ nội dung trên, xét thấy:

 Kháng nghị số 01/QĐKN-VKS-DS ngày 04/7/2018 của Viện trưởng VKSND thành phố Sông Công, tỉnhThái Nguyên không xác định được lý do, căn cứ pháp luật để đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

Mặc dù, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng thế chấp số 20.12HĐTC-CN ngày 21/9/2012 giữa Ngân hàng với anh Trần Thanh Liêm và chị Đoàn Thị Chuyền là quan hệ bảo lãnh, không phải quan hệ thế chấp tài sản, vi phạm pháp luật trong quan hệ dân sự, nên đã tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của các bên đương sự, có căn cứ kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 284 BLTTDS, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa theo trình tự phúc thẩm, có quan điểm rút toàn bộ kháng nghị số 01/QĐKN-VKS-DS ngày 04/7/2018 của VKSND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 289; Điều 295 BLTTDS 2015, đình chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đối với bản án số 01/2018/KDTM ngày 21/6/2018 TAND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên cấp sơ thẩm được phân công kiểm sát giải quyết vụ án đã không nghiên cứu kỹ nội dung vụ án, nội dung bản án, các quy định của pháp luật, đã tham mưu cho lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị  không bảo đảm đúng quy định của pháp luật, như đã phân tích trên.

Phòng 10 VKSND tỉnh Thái Nguyên

Các Bài Viết Cùng Thể Loại