NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI  “CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY” QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 256 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015.

31 Tháng Ba, 2020 Trao Đổi Pháp Luật

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018), trong đó nhóm tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XX bao gồm 13 Điều luật, từ Điều 247 đến Điều 259. BLHS đã có hiệu lực pháp luật được 02 năm, tuy nhiên, hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành BLHS năm 2015 đối với một số tội hiện còn chưa được ban hành, đặc biệt là đối với nhóm tội phạm về ma túy, với tình hình tội phạm về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc xử lý đối với nhóm tội này hiện nay là hết sức khó khăn, có nhiều vướng mắc và nhận thức khác nhau giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) như vấn đề áp dụng pháp luật, về hiệu lực của các văn bản hướng dẫn… Thực tiễn hiện nay các Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) vẫn vận dụng hệ thống các văn bản hướng dẫn BLHS năm 1999 để xử lý đối với nhóm tội phạm về ma túy quy định trong BLHS năm 2015, từ đó dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể,

Hiện nay xảy ra rất nhiều trường hợp một người (hoặc một nhóm người) đứng ra thuê phòng trọ, nhà nghỉ, khách sạn, phòng hát Karaoke…để sử dụng trái phép chất ma túy (tổ chức các sự kiện như mừng sinh nhật, chiêu đãi bạn…), hoặc người nghiện ma túy sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, sở hữu của mình để cùng với những người nghiện ma túy khác sử dụng ma túy, hoặc thuê phòng trọ ở rồi cung cấp ma túy cho những người nghiện ma túy khác ở cùng khu thuê trọ sử dụng, mục đích là lôi kéo họ sử dụng ma túy hoặc bán ma túy cho mình, về nguồn ma túy thì có thể của một người hoặc nhiều người cùng góp tiền mua để sử dụng chung…tuy nhiên, việc xử lý đối với các trường hợp này hiện nay là hết sức khó khăn vì phần lớn họ đều là những nghiện ma túy, thuê phòng trọ trong thời gian ngắn rồi rủ những người khác đến để cùng sử dụng ma túy; Phần lớn các vụ việc loại này khi phát hiện bắt giữ thường là không thu giữ được vật chứng, hoặc có thu được thì khối lượng ma túy còn lại rất ít không đủ để giám định hoặc cấu thành tội phạm khác (Tàng trữ trái phép chất ma túy…), thực tế trong số ít các vụ án đã khởi tố điều tra, truy tố và xét xử được thì chủ yếu là căn cứ vào lời khai nhận của bị can và những người nghiện ma túy được bị can cho mượn, thuê địa điểm để sử dụng ma túy, ví dụ như trường hợp sau đây:

Tóm tắt nội dung: 20 giờ ngày 10/9/2017. CQĐT Công an tỉnh TN bắt quả tang Hà Văn Đ; Mùi Văn Th đang vận chuyển trái phép 03 bánh Heroin. Đ; Th khai vận chuyển thuê cho Tráng A C để lấy tiền công, quá trình điều tra Đ và Th khai nhận khoảng 18 giờ cùng ngày khi đến nhận ma túy để vận chuyển thì C đã lấy 06 viên ma túy tổng hợp ra rồi cùng với Đ; Th sử dụng hết tại nhà riêng của C; Tráng A C cũng khai nhận phù hợp với lời khai của Đ và Th. Đối với hành vi của C hiện có hai quan điểm xử lý khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Tráng .A .C không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256 BLHS vì:

Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

“1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2….3…”

Như vậy bất kỳ người nào có hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu của mình hoặc có hành vi khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này thì phạm tội, người phạm tội biết rõ người khác thuê hoặc mượn là để sử dụng trái phép chất ma túy, không quy định nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có, của ai, người có địa điểm có nghiện ma túy hoặc có cùng sử dụng ma túy với người khác hay không… về cấu thành cơ bản, khung hình phạt, các tình tiết định khung tăng nặng đều không khác so với Điều 198 BLHS năm 1999.

Đến thời điểm này, chưa có văn nào hướng dẫn chi tiết tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256 BLHS năm 2015, các CQTHTT vẫn đang vận dụng theo “tinh thần” hướng dẫn tại điểm đ, mục 2, phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (Nghị quyết số 02 năm 2003/ NQ- HĐTP) hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1999; điểm b, tiết 7.3 mục 7, phần II  Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC- BTP ngày 24/12/2007 (Thông tư số 17/2007) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 theo đó “Người nào nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy;…” Như vậy, theo hướng dẫn tại hai văn bản này thì bản thân người có địa điểm phải không nghiện ma túy, không cùng sử dụng với người đã thuê, mượn địa điểm thì mới phạm tội, còn nếu họ là người nghiện ma túy và cùng sử dụng thì không phạm tội này (ví dụ: A đang sử dụng ma túy tại nhà riêng thì có B và C là bạn cũng là người nghiện ma túy đến chơi, A mời B, C cùng sử dụng ma túy thì bị bắt, trong trường hợp này A không phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu khối lượng ma túy còn lại đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì A phải chịu TNHS về tội tương ứng…)

Mặt khác: Theo quy định tại Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 thì “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó, hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền… ”

Điều 172. Hiệu lực thi hành. “1. 2. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ…là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.”

Như vậy Nghị quyết số 02/2003; Thông tư số 17/2007 là các văn bản quy phạm pháp pháp luật, hướng dẫn chi tiết việc áp dụng một số điều của BLHS năm 1999 hiện nay chưa có văn bản nào của chính các cơ quan ban hành các văn bản này thay thế, hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ và không trái với quy định của BLHS năm 2015, vì vậy các văn bản này vẫn còn hiệu lực áp dụng cho BLHS năm 2015 (ví dụ như Nghị quyết số 01/2001/NQ- HĐTP ngày 15/3/2001 của HĐTP TANDTC đến nay vẫn được các CQTHTT áp dụng khi xét xử đối với nhóm tội về ma túy, hoặc kể từ ngày 30/12/2015 nếu  TA trưng cầu giám định hàm lượng đối với chất ma túy ở thể rắn (không gồm nhiều loại trộn lẫn với nhau) theo công văn số 234 ngày 17/9/2014 của Tòa án Tối cao là trái với quy định của TT 08/2015 nên VKS căn cứ vào TT 08/2015 để kháng nghị bản án).

Trong trường hợp này cả ba tập trung sử dụng trái phép chất ma túy là ngẫu nhiên, không có sự bàn bạc, thống nhất trước, bản thân C cũng cùng sử dụng ma túy với Đ; Th, quan trọng nhất là không thu giữ được vật chứng mà chỉ do các đối tượng tự khai nhận, trong trường hợp nếu cả ba thay đổi lời khai, cùng khai chất đã sử dụng không phải là ma túy mà là chất khác thì không có căn cứ nào khác để buộc tội…Do đó không đủ căn cứ để khởi tố đối với C về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo.

Quan điểm thứ hai: Tráng A C phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” vì:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 154- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 quy định về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật như sau: “4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.”.

Như vậy: kể từ ngày 01/1/2018 thì BLHS năm 1999 hết hiệu lực thi hành, vì vậy tất cả các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết thi hành nhóm tội phạm về ma túy của BLHS năm 1999 nói chung, tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng cũng sẽ đương nhiên hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/1/2018, vì vậy không được viện dẫn hoặc hiểu theo “tinh thần” của các văn bản này làm căn cứ để xác định hành vi của Tráng A C có phạm tội hay không.

Mặt khác: Điều 3 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC – BTP ngày 14/11/2015 giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp về “Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC – BTP ngày 24/12/2007…” quy định như sau:

“3. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2015. Bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm b, tiết 7.3, mục 7, phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ”; Như vậy, kể từ ngày 30/12/2015 thì điểm b, tiết 7.3, mục 7, phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT hướng dẫn về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hết hiệu lực, như vậy kể cả trường hợp người có địa điểm cùng sử dụng ma túy với những người nghiện ma túy khác thì họ cũng vẫn phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 198 BLHS năm 1999, Điều 256 BLHS năm 2015.

Trong trường hợp này này, mặc dù không thu giữ được vật chứng nhưng các đối tượng đều tự nguyện khai báo, cả ba đều không nghiện ma túy, vì vậy có đủ căn cứ xác định: Tráng A C là người cung cấp ma túy, cùng với Đ; Th sử dụng tại nhà ở thuộc sở hữu của C (đã thỏa mãn nhu cầu về ma túy), nên hành vi của C đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 256 BLHS năm 2015 (đối với 02 người trở lên.)

Đối với vụ án này chúng tôi thống nhất với quan điểm thứ hai vì: Xác định Nghị quyết số 02/2003; Thông tư số 17/2007; Thông tư liên tịch số 08/2015 vẫn còn hiệu lực áp dụng theo quy định tại Điều 12; 172 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (không phải là vận dụng theo “tinh thần” các văn bản này), tuy nhiên, do điểm b, tiết 7.3, mục 7, phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT đã bị bãi bỏ theo quy định tại Điều 3 của TTLT số 08/2015, do đó mặc dù Tráng A C có phải là người nghiện ma túy và có cùng sử dụng với Đ và Th tại nhà ở của C hay không, không phải là yếu tố định tội của Điều 256 BLHS.

Do còn có những vướng mắc, quan điểm, nhận thức khác nhau như trên, xin nêu ra để trao đổi, thống nhất nhận thức về hiệu lực của Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP và các TTLT số 17/2007; số 08/2015 để giải quyết trường hợp này cũng như các trường hợp xảy ra về sau. Đề nghị liên ngành cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể để địa phương vận dụng, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, làm oan người vô tội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay./.

                                                                       Phòng 1 – VKS  tỉnh Thái Nguyên

Các Bài Viết Cùng Thể Loại