RÚT KINH NGHIỆM Rút kinh nghiệm đối với bản án có vi phạm tố tụng hành chính, Bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy.

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân: Năm 1952 bố mẹ ông Cường khai phá được hơn 8.000m2 đất đồi để trồng màu. Năm 1990 gia đình ông Cường đã trồng cây theo dự án PAM để lấy gạo ăn. Năm 1997 ông Lương Văn Cường đã có tên trong sổ giã ngoại tại tờ bản đồ số 66B, diện tích 8.985m2 loại đất rừng, gia đình ông Cường vẫn quản lý và sử dụng đến nay.

Năm 1999 Nhà nước có chủ chương cấp GCNQSD đất do ông Cường không có nhà, UBND xã đã báo con trai là Lương Văn Hà ký thay bố, mẹ để được cấp GCNQSD đất. Ngày 20/12/1999 ông Hà nhận được Quyết định giao đất nông nghiêp số 8195/QĐ-UBND của UBND huyện Đồng Hỷ (nay thuộc thành phố Thái Nguyên) cấp thửa 61a, tờ bản đồ số 7 là 0.28ha và thửa 337a, tờ bản đồ số 8 là 0,32ha. Tổng diện tích đất được cấp 2.800m2 mang tên ông Lương Văn Hà (thiếu so với thực tế trong sổ giã ngoại là 6.185m2), gia đình ông Cường đã nhiều lần làm đơn đề nghị của UBND xã Linh Sơn làm thủ tục cấp GCN.QSDĐ phần đất còn thiếu nhưng UBND không làm thủ tục cấp cho gia đình.

Ngày 16/11/2016, UBND xã Linh Sơn ban hành thông báo số 39/TB-UBND V/v “Trả lời việc cấp GCN.QSDĐ thiếu của gia đình ông Lương văn Cường và bà Đặng Thị Luân” lý do gia đình ông Cường, bà Luân đang tranh chấp với xóm Làng Phan và Phường hiếu xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, nên không đủ điều kiện.

Không đồng ý với văn bản của UBND xã Linh Sơn, ông Cường, bà Luân đã có đơn khởi kiện vụ án hành chính gửi đến Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, đề nghị Tòa án xét xử hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ (nay là thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân. Hủy Quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016.
  2. Kiến nghị UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên xem xét hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân đối với diện tích kê khai còn thiếu tại thử đất số 61, tờ bản đồ số 7, thuộc bản đồ địa chính xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên để đảm bảo quyền lợi của người Sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

Không đồng ý với Quyết định của bản án số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, người bị kiện có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa đã đề nghị: Do quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Kết quả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã chấp nhận, tuyên xử theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Những nội dung cấn rút kinh nghiệm: 

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm sau:

1.Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng:

1.1.Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện tham gia tố tụng không đúng quy định của pháp luật.

Việc xác định ai là người bị kiện thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan tổ chức thì phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

Trong vụ án này, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016. Theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.

Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện trong vụ án là: Chủ tịch UBND xã Linh Sơn là không đúng quy định tại khoản 9 Điều 3 của luật tố tụng hành chính, quy định:

9. Người bị kiện là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

1.2. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định và không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Kết quả xác định hiện trạng sử dụng đất của UBND xã và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện trên diện tích, thửa đất hộ gia đình công Cường, bà Luân xin cấp GCNQSD đất có khoảng 37 ngôi mộ chôn người chết (theo tài liệu của UBND xã), có hơn 20 ngôi mộ chôn người chết (Theo tài liệu thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm), của nhân dân xóm Làng Phan chôn rải rác. Khi hộ ông Cường, bà Luân có đơn xin cấp quyền sử dụng đất, ông Lương Văn Tứ (Trưởng xóm) đại diện cho công đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng vị trí thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất là đất Nghĩa trang của nhân dân xóm Làng Phan, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền làm thủ tục giao thửa đất cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan để làm nghĩa trang chôn người chết sau khi qua đời.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những hộ gia đình có các ngôi mộ trên thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất và cộng đồng dân cư xóm Làng Phan vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Khoản 10 Điều 3 LTTHC quy định:

10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Vi phạm về hoạt động tố tụng và việc xác minh, thu thập chứng cứ.

– Sau khi nhận được hồ sơ vụ án theo quyết định chuyển vụ án của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án số 05/2017/TLST-HC, tuy nhiên tại các văn bản tố tụng sau này và Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Bản án đều xác định là vụ án thụ lý số 06/TLST-HC là không chính xác;

– Ngày 18/12/2017 Tòa án ND thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án; đến ngày 11/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có quyết định phân công kiểm sát viên tham gia phiên tòa là không tuân thủ theo khoản 1 Điều 24 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016, quy định:

“Điều 24. Thông báo Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp

  1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 126 và khoản 1 Điều 217 Luật TTHC,Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa”.

– Ngày 25/3/2019 HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ, tuy nhiên Tòa án chưa tiến hành xác minh thu thập được các tài liệu chứng cứ để khắc phục được lý do tạm ngừng phiên tòa, nhưng lại mở lại phiên tòa và xét xử vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 187 của Luật tố tụng hành chính.

– Nhiều tài liệu có trong hồ sơ vụ án là bản phô tô không được công chứng, chứng thực theo quy định, nhưng Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung hoặc đối chiếu tính xác thực của tài liệu phô tô để sử dụng làm chứng cứ trong vụ án. Khi thu thập chứng cứ Tòa án không lập biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ theo quy định tại Điều 83 của Luật tố tụng hành chính nên không xác định được tài liệu của ai, do ai cung cấp. Sau khi thu thập tài liệu chứng cứ Tòa án không thông báo cho các đương sự về việc thu thập tài liệu chứng cứ để các đương sự thực hiện quyền nghĩa vụ của mình; không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ là vi phạm Điều 4, Điều 98, Điều 138 của Luật tố tụng hành chính.

– Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh, thu thập lời khai của những người là cộng đồng dân cư xóm Làng Phan, của anh Lương Văn Hà  nhưng không  xác định tư cách tố tụng hoặc đưa họ vào tham gia tố tụng của vụ án.

– Khi ông Cường, bà Luân kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 61-TBĐ số 7, ông cho rằng đó là đất của gia đình mình sử dụng vào việc trồng rừng từ những năm 1990, nhưng trên thực tế trên phần diện tích đất này còn có nhiều ngôi mộ và đã được cộng đồng dân cứ xóm Làng Phan sử dụng vào việc chôn cất người chết sau khi qua đời từ năm 1990, ông Lương Văn Tứ đại diện cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng đó là đất nghĩa trang xóm Làng Phan, nhưng Tòa án không tiến hành xác minh, thu thập các thông tin về thửa đất, số lượng cụ thể là bao nhiêu ngôi mộ, cụ thể thân nhân chủ của các ngôi mộ; các tài liệu, chứng cứ và quy định của UBND tỉnh Thái Nguyên trong việc ban hành quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang theo Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/6/2016 của Chính phủ là có nhiều thiếu sót trong việc điều tra, thu thập chứng cứ. Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, không có cơ sở để đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện trong vụ án.

  1. Về việc nhận định, đánh giá và áp dụng pháp của bản án sơ thẩm không phù hợp khách quan:

Tòa án cấp sơ thẩm viện dẫn lý do: “ Tại Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn đã xác định rõ việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Cường, bà Luân vì lý do đất đang có tranh chấp với hội phường hiếu xóm Làng Phan” , là không chính xác, không phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Tòa án không xem xét, đánh giá cộng đồng dân cư xóm Làng phan và phường họ Hiếu xóm Làng Phan có phải là chủ thể có quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5 Luật đất đai năm 2013 hay không?;  Có phải là chủ thể tranh chấp đất đai với gia đình ông Cường hay không mà kết luận: “UBND xã Linh Sơn xác định tranh chấp giữa hộ gia đình ông Cường, bà Luân với phường hiếu xóm Làng Phan là căn cứ duy nhất để ban hành thông báo số 39/TB-UBND” là không khách quan, toàn diện.

Đáng lẽ ra, khi xem xét nội dung này ngoài việc phân tích, áp dụng quy định tại Điều 74, Điều 75 của Bộ luật dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét đánh giá và áp dụng khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm 2013 để xác định chủ thể có quyền được sử dụng đất, đồng thời phân tích đánh giá xem có việc tranh chấp hay không?. Ai là người tranh chấp với ông Cường, bà Luân khi kê khai xin cấp giấy chứng nhận thì mới đảm bảo cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan toàn diện.

– Sau khi Tòa án ND huyện Đồng Hỷ thụ lý vụ án tại thông báo thụ lý số 02/TLST-HC ngày 27/02/2017, UBND xã Linh Sơn có văn bản số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 về việc: “Thông báo trả lời đơn xin cấp GCNQSD đất thiếu của gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân..”. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016, nhưng không xem xét và giải quyết đối với Thông báo số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 của UBND xã Linh Sơn, là chưa giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, vi phạm điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Việc áp dụng pháp luật nội dung: Tòa án không đánh giá phân tích tài liệu, chứng cứ và áp dụng pháp luật nội dung là Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà chỉ áp dụng Bộ luật dân sự loại trừ chủ thể sử dụng đất là thiếu sót.

– Trường hợp HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy quyết định hành chính bị khởi kiện thì buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; Đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy. Nhưng bản án lại kiến nghị UBND xã Linh Sơn xem xét, hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân là vi phạm khoản 1 Điều 6, khoản 3 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Khi giải quyết về phần án phí Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội là không phù hợp.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, nên tại bản án số 01/2019/HC-PT ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu lên để rút kinh nghiệm chung.

                                                                                       Phòng 10

Các Bài Viết Cùng Thể Loại