THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN” BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM  ĐỂ GIẢI QUYẾT LẠI

12 Tháng Mười Một, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

  1. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án

Năm 1994 ông Cao Viết Cửu ký hợp đồng thuê khoán đất của Nông trường Chè (nay là Công Ty Chè Phú Lương) diện tích 48.404m2 thuộc tờ bản đồ 97 đo đạc năm 1998. Do tuổi cao nên ông Cửu nhờ anh Cao Văn Hoan (con trai) đứng tên ký hợp đồng nhận khoán. Sau khi ký hợp đồng ông Cửu và bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1943 (sống chung như vợ chồng ông Cửu) là người trực tiếp canh tác trồng keo, chè, quản lý sử dụng diện tích đất thuê, đóng góp nghĩa vụ với nông trường và địa phương. Năm 2011 ông Cửu đã làm nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất thuê (có vay vốn Ngân hàng chính sách 8.000.000đ). Đến cuối năm 2013 ông Cửu ốm phải đi viện, bà Hoa đưa con gái về quê Hưng Yên sinh sống. Anh Hoan tự ý đến ở và canh tác trên diện tích đất đó.  Năm 2014 ông Cửu khởi kiện đòi anh Hoan trả lại nhà cửa, đất đai cho ông. Năm 2016 ông Cửu chết anh Hoan ký lại hợp đồng thuê khoản đất và ở trên diện tích đất khoán cho đến nay. Anh có cam kết trả nợ Ngân hàng cho ông Cửu nhưng hiện nay chưa trả xong.

Quá trình giải quyết vụ án:

Anh Huy người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Cửu đề nghị anh Hoan trả  120.000.000đ thì không yêu cầu trả tài sản.

Bà Kho vợ ông Cửu có quan điểm giống anh Huy.

Các con của ông Cửu với bà Kho gồm chị Thu, chị Liên, anh Tám, anh Mùi đề nghị anh Hoan trả tài sản và chia tài sản ông Cửu để lại cho các thành viên của gia đình.

Bà Hoa (người sống chung như vự chồng với ông Cửu từ năm 1979 – 2013) đề nghị xem xét đến công sức của bà xây dựng khối tài sản.

 Bản án sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương:

Áp dụng: Điều 25, 26, 27, 35, 39, 46, 74, 147, 171, 225, 227, 236, 264, 266, 271, 273/BLTTDS; Điều 483, 484, 487/BLDS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí.

Tuyên xử:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Viết Cửu, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng anh Cao Viết Huy.

– Anh Cao Viết Hoan phải thanh toán giá trị tài sản bằng tiền cho anh Cao Viết Huy là 86.932.000đ.

– Anh Cao Văn Hoan được quyền sử dụng toàn bộ các tài sản hiện có gồm: Nhà và toàn bộ cây cối hoa màu trên diện tích được giao khoán. Tổng giá trị tài sản quy thành tiền: 86.738.000đ.

– Ghi nhận sự thỏa thuận anh Cao Viết Huy có trách nhiệm thanh toán số tiền 8.000.000đ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Lương khi đến hạn thanh toán.

– Án phí: anh Cao Viết Huy được miễn toàn bộ án phí, anh Cao Văn Hoan phải nộp 4.330.000đ

Ngày 05/9/2018 anh Cao Viết Huy có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại bản án phúc thẩm số 28/2019/DSPT ngày 22/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận đơn kháng cáo của anh Huy, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, chuyển hồ sơ vụ án để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

2.1. Vi phạm về xác định tư cách tham gia tố tụng

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn, bị đơn xác định: Ông Cao Viết Cửu (mất ngày 23/7/2016) và bà Đỗ Thị Kho sinh được 8 người con là Cao Văn Ngọ (đã chết); Cao văn Hoan; Cao Văn Minh; Cao Thị Niên; Cao Văn Thìn (đã chết); Cao Văn Mùi và Cao văn Tám. Trong quá trình giải quyết vụ án sau khi ông Cửu chết, anh Huy có đơn đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ việc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng anh Cao Viết Huy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ là đúng, tuy nhiên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định một mình anh Huy là người thừa kế quyền và nghĩa vụ là chưa đầy đủ vì những người thừa kế tài sản của ông Cửu không có văn bản thống nhất cử người đại diện quyền và nghĩa vụ tố tụng là vi phạm Điều 74 BLTTDS.

Trong vụ án này còn có 4 người con chung của ông Cửu và bà Hoa (người sống chung như vự chồng với ông Cửu) là các chị Cao Thị Chung, Cao Thị Hà, Cao Thị Thủy, Cao Thị Vui. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tuy nhiên trong hồ sơ không có  bản tự khai của họ về yêu cầu đối với phần tài sản của ông Cửu để lại, không được triệu tập tham gia hòa giải, công khai chứng cứ là vi phạm Điều 70, Điều 209 BLTTDS.

2.2. Vi phạm về thủ tục ủy quyền

Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND huyện Phú Lương là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn Toàn (Phó trưởng phòng) và bà Nguyễn Thị Huệ chuyên viên nhưng trong hồ sơ không có văn bản ủy quyền là vi phạm Điều 85 BLTTDS

Xét thấy Bản án sơ thẩm số: 14/2018/DS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm đã không phát hiện được vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là thiếu sót, quá trình kiểm sát bản án không nhận  diện được vi phạm là chưa nâng cao được vị trí, vai trò và trách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau phiên tòa dân sự.

Để tăng cường trách nhiệm Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, nâng cao ý thức chấp hành quy chế nghiệp vụ của ngành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã để nghiên cứu, rút kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết các vụ án.

PHÒNG 9

Các Bài Viết Cùng Thể Loại