VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QSD ĐẤT

30 Tháng Mười, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã ban hành kháng nghị đối với Đối với Bản án số 53/2019/DS-ST ngày 02/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyênvề tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất vì có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung.

Nội dung vụ án:

ChịNguyễn Thị Nguyệt Minh là chủ sở hữu 06 thửa đất gồm các thửa số 440, 441, 439, 409, 127a, tờ bản đồ số 8 và thửa 334, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên. Vào các ngày 23/01/2017, 04/5/2017, 11/5/2017, chị Minh đã ký 03 hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 06 thửa đất nêu trên và tài sản trên đất cho anh Đoàn Xuân Đạt, các hợp đồng được công chứng theo quy định. Sau khi nhận chuyển nhượng, anh Đạt không làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ ghi vào phần biến động. Đến ngày 04/8/2017, anh Đạt đã thế chấp 06 thửa đất nói trên tại ngân hàng để vay 2.800.000.000đ.

Ngày 17/8/2017, chị Minh và anh Đạt đã lập hợp đồng mượn tài sản là quyền sử dụng đất đối với 06 thửa đất nêu trên, mục đích “Làm tài sản thế chấp vay vốn kinh doanh, thời hạn cho mượn là: 03 năm (kể từ ngày 17/8/2017 đến hết ngày 17/8/2020.Hợp đồng được lập tại Văn phòng công chứng.

Sau khi trả nợ ngân hàng và xóa thế chấp, ngày 21/11/2017, anh Đạt chuyển nhượng thửa đất số 344 cho anh Nguyễn Trung Hiếu; Ngày 13/12/2017, chuyển nhượng thửa đất số 440, 127a, 409, 439, 441thuộc tờ bản đồ số 8 cho anh Nguyễn Minh Hải. Anh Hiếu, anh Hải đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 09/3/2018, tại văn phòng Luật sư A, anh Đạt đã lập một bản cam kết có sự chứng kiến của luật sư với nội dung: anh Đạt mượn của chị Minh 06 thửa đất nêu trên, anh Đạt cam đoan chỉ sử dụng để vay vốn và không chuyển nhượng cho ai.

Tháng 4/2018, chị Minh đã làm đơnkhởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị hủy toàn bộ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị MinhvớianhĐạt; giữa anh Đạt vớianh Hiếu, anh Hải để trả lại cho chị Minh06 thửa đất trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Hiếu và anh Hải đề nghị được sử dụng các thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ anh Đạt, không nhất trí với yêu cầu của chị Minh.

Tại bản án số 53/2019/DSST ngày 02/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 146, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 124, 127, 131, 132  Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nguyệt Minh, đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Minh với anh Đạt; giữa anh Đạt với anh Hiếu, anh Hải là vô hiệu.Chị Nguyễn Thị Nguyệt Minh có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên nhận thấy Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên có những vi phạm như sau:

  1. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

– Vi phạm trong việc thụ lý: Hồ sơ thể hiện ngày 28/11/2018, chị Minh có đơn đề nghị Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt đối với anh Đạt. Tòa án đã tiếp nhận đơn nhưng không ra thông báo thụ lý đơn của chị Minh, quá trình giải quyết việc Tòa án không ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt khỏi nơi cư trú là vi phạm quy định tại Điều 365, 383 Bộ luật tố tụng dân sự.

– Vi phạm trong việc thông báo cho đương sự: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có người đại diện theo ủy quyền nhưng Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không thể hiện việc Tòa án thông báo cho những người này là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.

– Vi phạm trong việc xem xét thẩm định tại chỗ: Tại quyết định xem xét thẩm định tại chỗ,tại phần căn cứ của quyết định có ghi thời gian xem xét thẩm định là ngày 20/6/2019 nhưng lại tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2019. Thành phần tham gia có ghi chị Minh, anh Hiếu, anh Hải nhưng không có chữ ký của những người này trong biên bản. Biên bản không ghi thời gian bắt đầu, kết thúc buổi thẩm định là vi phạm Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vi phạm trong việc xác định chi định giá và tính án phí:Tại phần quyết định của bản án đã tuyên các hợp đồng là vô hiệu nhưng không nêu về hậu quả của hợp đồng vô hiệu có phát sinh hay không; Đối với phần án phí: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, thuộc trường hợp không có giá ngạch. Việc Tòa án nhận định và quyết định buộc anh Đạt phải chịu 45.608.179 đồng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng quy định.

  1. Vi phạm về việc áp dụng pháp luật

– Vi phạm trong việc xác định giao dịch dân sự vô hiệu: Xét các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Minh và anh Đạt thấy:Hợp đồng có công chứng, chứng thực và anh Đạt đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai nên anh Đạt có quyền sở hữu hợp pháp đối với 06 thửa đất nêu trên. Đến ngày 17/8/2017, anh Đạt và chị Minh mới thiết lập hợp đồng cho mượn tài sản nên hợp đồng cho mượn tài sản bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, xét bản cam kết lập ngày 09/3/2018 thấy thời điểm đó anh Đạt đã chuyển nhượng toàn bộ 06 thửa đất nêu trên cho anh Hải, anh Hiếu. Anh Hải và anh Hiếu đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bản cam kết này không có giá trị về mặt pháp lý.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đạt không có mặt tại địa phương nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án nhận định: 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa chị Minh với anh Đạt là vô hiệu do bị giả tạo, lừa dối dẫn đến việc chuyển nhượng các thửa đất này từ anh Đạt sang cho anh Hiếu, anh Hải cũng vô hiệu do lỗi của anh Đạt. Chị Minh chưa nhận được của anh Đạt bất kỳ khoản tiền nào, cũng chưa bàn giao tài sản là nhà và đất cho anh Đạt nên chị Minh được tiếp tục quản lý sử dụng là phiến diện và không có căn cứ.

– Vi phạm trong việc xác định về người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự: Bản án của Tòa án nhận định anh Hiếu và anh Hải không phải là người thứ ba ngay tình và không áp dụng các quy định của pháp luật để bảo vệ những người này là không đúng quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự.

 Vi phạm trong việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu: Việc Tòa án nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa chị Minh và anh Đạt vô hiệu dẫn đến các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa anh Đạt với anh Hiếu, anh Hải vô hiệu và chị Minh được nhận lại tài sản là các thửa đất nêu trên là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự.

Từ những nội dung phân tích nêu trên, xét thấy quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng và vi phạm trong việc áp dụng pháp luật, dẫn đến quyết định giải quyết vụ án không đúng pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thấy cần kháng nghị để xét xử phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết lại nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự theo đúng quy định của pháp luật./.

 

Hoàng Thị Lệ Xuân – VKSND TPTN

Các Bài Viết Cùng Thể Loại