Rút kinh nghiệm trong việc áp dụng Thông tư số 17/2015/-BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 của Bộ Y tế – Bộ Công an – Bộ Lao động thương binh và xã hội, về: Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, trong việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

18 Tháng Sáu, 2019 Trao Đổi Pháp Luật

 

Thực hiện công tác kiểm sát Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Phòng 10- VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy:

Trong thời gian từ ngày 01/12/2018 đến 31/5/2019 Phòng 10 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tiếp nhận: 292 quyết định liên quan đến việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện, do Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gửi đến theo quy chế. Trong đó có 14 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của một số Tòa án nhân dân cấp huyện ban hành chưa đúng theo quy định của pháp luật về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong việc xác định tình trạng nghiện ma túy. Cụ thể là những trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định, trong quá trình lập hồ sơ, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy theo Thông tư 17/2015/-BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 của Bộ Y tế- Bộ Công an-Bộ Lao động thương binh và xã hội, Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy.

Trong 14 quyết định của Tòa án cấp huyện nêu trên, có nội dung cơ bản ghi như sau:

Phần “NHẬN THẤY” có ghi:

“…Nguyễn Văn A là người nghiện ma túy từ năm…, loại ma túy sử dụng hê rô in, hình thức sử dụng chích (hoặc hít).

 Tại bản tường trình ngày 10/4/2019 anh Nguyễn Văn A thừa nhận vào ngày 09/4/2019 có mua ma túy về sử dụng, hình thức sử dụng là chích (hoặc hít).

Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 10/4/2019, Trạm Y tế xã X, huyện P đã có kết quả xét nghiệm chất gây nghiện về việc xác định người nghiện ma túy đối với anh Nguyễn Văn A, xác định anh Nguyễn Văn A nghiện ma túy với kết quả dương tính với ma túy.

Vào hồi 09 h ngày 10/4/2019 Công an xã X, huyện P đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh Nguyễn Văn A.

Ngày 10/4/2019 Công an huyện P tiến hành xác minh về nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn A, kết quả xác minh: Anh A không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên sống lang thang, gia đình không liên lạc được với anh A.

Ngày 14/5/2019 Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện P có công văn …về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Phần “ XÉT THẤY” có ghi:

“…Vào hồi 09 h ngày 10/4/2019 Công an xã X, huyện P đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh Nguyễn Văn A.

Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm ngày 10/4/2019, Trạm Y tế xã X, huyện P xác định anh Nguyễn Văn A nghiện ma túy, với kết quả xét nghiệm: Dương tính (+). Bản thân người bị đề nghị cũng khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng gần nhất là ngày 09/4/2019.

Ngày 10/4/2019 Công an huyện P tiến hành xác minh về nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn A, kết quả xác minh: Anh A là đối tượng không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, gia đình không biết đi đâu. Ngày 10/4/2019 Chủ tịch UBND xã X đã có quyết định…về việc giao anh Nguyễn Văn A cho cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên..”.

(Ghi chú: Các tài liệu Phiếu xét nghiêm chất ma túy; Bản tường trình của người bị đề nghị; Biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy, được lập cùng một ngày).

Căn cứ nội dung trên xét thấy: Hồ sơ đề nghị (Theo nội dung quyết định xác định căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị thể hiện), nội dung được nêu trong quyết định, có cơ sở xác định:

Việc xác định tình trạng nghiện ma túy làm cơ sở, điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định (Chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ – hoặc chưa bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy). Cơ quan đề nghị, Tòa án nhân dân xem xét, quyết định đối với các trường hợp nêu trên chỉ căn cứ vào kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy của Trạm Y tế cấp xã. Ngoài ra không còn thủ tục và quy trình nào khác để xác định tình trạng nghiện ma túy làm căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Thông tư 17/2015/-BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 của Bộ Y tế- Bộ Công an-Bộ Lao động thương binh và xã hội, về: Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, quy định như sau:

“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư liên tịch này quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy nhóm Opiats (các chất dạng thuốc phiện) và ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

  1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định tình trạng nghiện ma túy.
  2. Cá nhân thuộc diện cần phải xác định tình trạng nghiện được quy định tại Nghị định số94/2010/NĐ-CPngày 09/9/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng, Nghị định số 111/2013/NĐ-CPngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Điều 3. Thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ hoặc y sỹ, có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, có chứng chỉ hoặc chứng nhận tập huấn về chẩn đoán và điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh- Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức hoặc các viện, bệnh viện, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có đủ điều kiện thực hiện tập huấn và cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận được Bộ Y tế giao, đang làm việc tại các cơ sở y tế sau:

  1. Phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  2. Phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  3. Trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; bệnh viện cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các Bộ, ngành khác.

Điều 4. Thủ tục đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy

  1. Văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy của Công an xã, phường, thị trấn hoặc công an cấp huyện, cấp tỉnh.
  2. Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc các tài liệu phản ánh hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tài liệu chứng minh đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về nghiện ma túy (nếu có); tài liệu chứng minh đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (nếu có).

Điều 5. Quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

Người có thẩm quyền quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy trình sau:

  1. Tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy và tài liệu quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này.
  2. Tiến hành ngay việc xác định tình trạng nghiện ma túy
  3. a) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy nhóm Opiats

Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về nghiện ma túy;

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên;

– Kết quả áp dụng nghiệm pháp Naloxone dương tính (+);

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

  1. b) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy chất dạng Amphetamine

Người được xác định là nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine khi có ít nhất 3 trong 6 triệu chứng sau trong 12 tháng vừa qua »

 Căn cứ Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12 / 12 / 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn chẩn đoán người nghiện ma túy nhóm OPIATS (chất dạng thuốc phiện), quy định:

I-Khái niệm:

  1. Chất ma túy là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.

Chất ma túy có nhiều loại: loại tự nhiên, loại bán tổng hợp, loại tổng hợp.

  1. Ma túy nhóm Opiats (chất dạng thuốc phiện: CDTP)
  2. a) Ma túy nhóm Opiats (CDTP) là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dược lý tương tự thuốc phiện, bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadon, Levo- alpha- acetyl- methadon (LAAM)…
  3. b) Trong nhiều tài liệu có đề cập đến ma túy nhóm Opiats hoặc nhóm Opioid hoặc các CDTP. Ba nhóm trên thực chất là một, trong hướng dẫn này thống nhất tên gọi của ba nhóm trên là nhóm Opiats hoặc CDTP”.

Căn cứ quy định trên, đối tượng phải xác định tình trạng nghiện ma được quy định tại các Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính phủ; Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Việc xác định tình trạng nghiện phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục, quy trình và người xác định tình trạng nghiện phải đúng thẩm quyền.

Để xác định người nghiện ma túy phải có kết quả xét nghiệm, quy trình quy định tại Điều 5 Thông tư 17, cụ thể:

 Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy nhóm Opiats

Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây :

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về nghiện ma túy;

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (Chưa được xóa tiền sự).

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

 

PHỤ LỤC SỐ 1

(Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 7 năm 2015 Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy)

Bộ…………………

Sở………………….

Tên cơ sở:

PHIẾU THEO DÕI
về xác định tình trạng nghiện ma túy nhóm Opiats( các chất dạng thuốc phiện)

Họ tên:…………………………………………………………………………………………………………….

Địa chỉ……………………………………………………………………………………………………………..

Do Công an……………………………………………………………………………………………………….

… giờ… ngày… tháng … năm … tiếp nhận theo dõi.

Số TT Các triệu chứng của trạng thái cai Ngày thứ nhất Ngày thứ 2 Ngày thứ 3
1 Cảm giác thèm chất ma túy      
2 Ngạt mũi hoặc hắt hơi      
3 Chảy nước mắt      
4 Đau cơ hoặc chuột rút      
5 Co cứng bụng      
6 Buồn nôn hoặc nôn      
7 Tiêu chảy      
8 Giãn đồng tử      
9 Nổi da gà hoặc ớn lạnh      
10 Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp      
11 Ngáp      
12 Ngủ không yên      

Ghi chú:

  1. Trạng thái cai dương tính (+) khi có 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai.
  2. Thời gian theo dõi để xác định trạng thái cai nhóm Opiats tối đa là 03 ngày
  3. Ghi chép chi tiết của y sỹ/ bác sĩ (nếu cần thiết):..

Ma túy nhóm Opiats được quy định tại điểm a khoản 2 Mục I  Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12 / 12 / 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Theo quy định trên, đối với trường hợp người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định (Chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ- hoặc chưa bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy), xác định người đó nghiện ma túy phải đủ điều kiện sau:

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (Chưa được xóa tiền sự).

– Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

Do đó: Những trường hợp nêu trên, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định, việc xác định tình trạng nghiện mới chỉ tiến hành thủ tục xét nghiệm « Dương tính với chất ma túy túy nhóm Opiats », làm căn cứ để xác định đã nghiện ma túy và để xác định là đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính :

“Điều 96. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.

Là không đúng theo quy định của pháp luật.

Những tồn tại vi phạm trong 14 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện (gồm Huyện Phú Bình 12 quyết định; Thành phố Thái Nguyên: 01 quyết định; huyện Đại Từ: 01 quyết định) này có trách nhiệm của Kiểm sát viên và Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện chưa nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật trong việc thực hiện công tác kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tồn tại này cần được thông báo rút kinh nghiệm chung. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                                   Phòng 10

                                                              

Các Bài Viết Cùng Thể Loại