Nâng cao chất lượng ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

29 Tháng Năm, 2019 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

VKSND T THÁI NGUYÊN

PHÒNG 10

Số: 71 /CĐ – VKS-P10

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Thái Nguyên, ngày 07 tháng 5 năm 2019.


CHUYÊN ĐỀ

Nâng cao chất lượng ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia      

Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa

Vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

 

  1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1.Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan điều chỉnh.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong các biện pháp xử lý hành chính nêu trên, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong các biện pháp cách ly người vi phạm ra khỏi cộng đồng nhằm chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, giáo dục, giúp đỡ họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy để đảm bảo được tiến hành nhanh chóng, công bằng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật, Luật xử lý vi phạm hành chính quy định việc áp dụng các biện pháp trên được thực hiện theo thủ tục tư pháp và được giao choc ơ quan Tòa án thực hiện.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định cụ thể tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012,

Ngày 20/01/2014 Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH-13 quy định về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”  (Pháp lệnh 09).

(Chức năng, nhiệm vụ của VKSND được quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh 09).

Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Nghị định 221) và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP (Nghị định 136).

Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Lao động Thương binh và xã hội ban hành Thông tư lien tịch số 17/2015/BYT-BCA-BLĐTBXH ngày 09/7/2015 về việc: Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma rúy.

Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 19/2015/TT-BTP ngày 28/12/2015 về: Quy định việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vụ 12 VKSND Tối cao (nay là Vụ 10) ban hành hướng dẫn số 17/HD-VKSTC-V12 ngày 06/02/2015 về việc hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh số 09 (Hướng dẫn số 17), và Hướng dẫn số 28/HD-VKSTC ngày 19/10/2018 của VKSND Tối cao về lập hồ sơ kiểm sát giải quyết án Hành chính, vụ việc KDTM, Lao động, Phá sản, xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ( Hướng dẫn số 28).

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015: Hướng dẫn một số quy định về xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án (Nghị quyết 04).

Bộ Công an ban hành Thông tư 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Thông tư 05).

Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành quyết định số 3752/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 về: Thống nhất thực hiện quy trình, biểu mẫu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Quyết định 3752).

2.Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Nghị định số 136 quy định ba đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thay vì hai đối tượng như quy định tại tại khoản 1 Điều 96 Luật XLVP hành chính, và Điều 3 Nghị định số 221.

Ba đối tượng gồm:

-Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 1 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

– Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

(Lưu ý quy định tại khoản 2 Điều 35a Nghị định 136: Điều 35a. Xử lý trường hợp người đang trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Người được giáo dục sau khi đã chấp hành ít nhất 1/2 thời gian giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà không tiến bộ, tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn xử lý như sau:

  1. Nếu hành vi vi phạm thuộc trường hợp quy định tạikhoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.”)

– Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.

3.Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy.

-Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy được quy định tại Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP; khoản 3 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP; và quy định tại Điều 3 Thông tư 17.

Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải chịu trách nhiệm về việc xác định của mình trước pháp luật.

-Đối tượng cần phải xác định tình trạng nghiện ma túy:

Tại khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 17 quy định: Cá nhân thuộc diện cần phải xác định tình trạng nghiện được quy định tại… Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

4.Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:

“1.Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 được thực hiện như sau:

  1. Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  2. Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

c.Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị.

2.Trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó”.

Theo Điều 8 Nghị định 221, quy định: Khi phát hiện người sử dụng ma túy trái phép, Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép của người đó và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trường hợp cá nhân, tổ chức phát hiện người sử dụng ma túy trái phép thì báo cho cơ quan Công an cấp xã nơi người có hành vi vi phạm để lập biên bản và xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ;

Biên bản sử dụng trái phép chất ma túy được quy định trong: Quy trình, biểu mẫu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, ban hành kèm theo Quyết định 3752.

5.Thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC.

– Khoản 2 Điều 105 Luật XPVPHC năm 2012 và Điều 3 Pháp lệnh 09 thì Tòa án ND cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cụ thể Tòa án có thẩm quyền xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án ND cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở.

  1. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 4 Nghị định 221; Điều 9 Nghị quyết 04. Thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện và bị lập biên bản vi phạm hành chính cho đến ngày Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Tuy nhiên cần lưu ý thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 1 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

  1. Xác minh nơi cư trú người bị đề nghị.

Được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư 05: Việc xác minh trực tiếp do cơ quan Công an có thẩm quyền lập hồ sơ thực hiện; hoặc gửi phiếu xác minh Công an cấp xã nơi tiếp nhận kịp thời tổ chức xác minh và gửi Phiếu trả lời xác minh cho cơ quan Công an đề nghị xác minh trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ khi nhận được Phiếu yêu cầu xác minh.

Ngoài ra cần nghiên cứu tham khảo thêm các: Điều 12; Điều 30-Đăng ký tạm trú; Điều 31-Lưu trú và thông báo lưu trú; Điều 32- Khai báo tạm vắng của Luật Cư trú.

 

          II-CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT THEO ĐIỀU 4 – PHÁP LỆNH 09.

1.Quy định chung:

-Điều 4. Pháp lệnh 09 quy định: “ Kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

  1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.
  2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này.
  3. Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó”.

– Hướng dẫn số 17 và Hướng dẫn số 28 của VKSND Tối cao

 

2.Kết quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân trong thời gian qua.

          2.1. Tổng số quyết định ADBPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng theo quyết định 3752 của UBND tỉnh Thái Nguyên.

          -Năm 2017 có: 394 quyết định, trong đó áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc: 389 người; đình chỉ áp dụng: 13 người.

-Năm 2018 có: 503 quyết định, trong đó áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc: 496 người; đình chỉ áp dụng: 23 người.

-03 tháng đầu năm 2018 có: 249 quyết định, trong đó áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc: 246 người; đình chỉ áp dụng: 03 người.

2.2. Kết quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.

-Ưu điểm:

Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cơ bản đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, thực hiện công tác kiểm sát lập hồ sơ, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân đúng theo quy định. Không để xảy ra trường hợp nào Tòa án ban hành quyết định trái pháp luật. Trong thời gian từ năm 2017 đến nay (Thực hiện quyết định 3752), không có quyết định nào bị cấp phúc thẩm hủy do cấp sơ thẩm ban hành trái pháp luật khi có khiếu nại (có 02 quyết định bị khiếu nại, cấp phúc thẩm xét hủy do phát sịnh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm do người bị đề nghị nuôi con dưới 36 tháng tuổi và đang có thai).

Việc lập hồ sơ kiểm sát áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã tuân thủ theo hướng dẫn số 17 và hướng dẫn số 28 của VKSND Tối cao.

Việc nghiên cứu hồ sơ, lập báo cáo đề xuất hướng giải quyết, bản phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp đã thể hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của Ngành kiểm sát thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với cơ quan Tòa án, quan điểm về đường lối xử lý đối với đề nghị của cơ quan đề nghị về việc đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị, cơ bản đầy đủ lý do, căn cứ pháp luật áp dụng.

-Tồn tại:

Quyết định 3752/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên về: Thống nhất thực hiện quy trình, biểu mẫu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã thể chế các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp trên (Của Chính phủ; của các bộ). Quy định về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc là hồ sơ theo mẫu, là các tài liệu cần và đủ đối với từng đối tượng bị đề nghị.

Tuy nhiên qua công tác kiểm tra, khảo sát hồ sơ kiểm sát áp dụng biện pháp xử lý cai nghiện bắt buộc tại cơ sở vẫn còn tồn tại hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định, như: Thiếu biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; thiếu thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy; thiếu bản tường trình của người bị đề nghị…

Bản báo cáo đề xuất chưa thể hiện được việc thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quyền hạn của Ngành kiểm sát là kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Cụ thể không đầy đủ lý do, thiếu căn cứ pháp luật áp dụng. (Thiếu nội dung sự kiện pháp lý xảy ra; hoặc tài liệu xác định đối tượng áp dụng; hoặc thiếu căn cứ áp dụng về thẩm quyền giải quyết của Tòa án; hoặc thiếu căn cứ áp dụng về thời hiệu áp dụng;hoặc thiếu căn cứ áp dụng trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, không nêu cụ thể các Điều luật, văn bản áp dụng) do đó nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên chưa có sức thuyết phục.

-Nguyên nhân.

Nguyên nhân chủ quan: Sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo một số đơn vị cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức. Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực này chưa nghiên cứu đầy đủ, chưa sâu, nên không nắm chắc được các nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh số 09, do đó không thể hiện đầy đủ các điều kiện, yêu cầu cần và đủ theo quy định, không kịp thời phát hiện những vi phạm, tồn tại của các cơ quan chức năng có liên quan thực hiện Pháp lệnh số 09 để thực hiện quyền hạn của Kiểm sát kiến nghị, kháng nghị theo quy định.

Nguyên nhân khách quan: Đây là lĩnh vực mới, các cơ quan chức năng chưa kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện, có nhiều cơ quan có liên quan, nhiều cơ quan ban hành văn bản hướng dẫn nên thiếu sự đồng bộ, thống nhất, cấp cơ sở thực hiện núng túng, nên hiệu quả thực hiện công tác chưa cao.

3.Biện pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.

3.1. Công tác lập hồ sơ kiểm sát và kiểm sát hồ sơ ADBPXLHC.

Từ thực tiễn công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt và từng bước chuẩn hóa các hoạt động nghiệp vụ trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Kiểm sát viên (KSV) kiểm sát việc áp dụng biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân. Tạo sự thống nhất trong nhận thức cũng như thao tác nghiệp vụ của KSV khi kiểm sát, thấy Kiểm sát viên cần thực hiện các kỹ năng sau:

Thứ nhất: Giai đoạn Tòa án thụ lý vụ việc:

Kiểm sát viên lập hồ sơ kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân ngay sau khi nhận Thông báo thụ lý việc. Trên cơ sở đó tiến hành các hoạt động kiểm sát.

– Kiểm sát thông báo về việc thụ lý: Kiểm sát về thời hạn Tòa án thụ lý: Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ của Cơ quan có thẩm quyền chuyển đến, Tòa án phải vào sổ giao nhận và phải thụ lý, phân công Thẩm phán giải quyết (Điều 8 Pháp lệnh 09).

Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thụ lý, Tòa án phải thông báo việc thụ lý cho Viện kiểm sát, Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị.

– Kiểm sát nội dung thông báo thụ lý: Thông báo thụ lý phải có các nội dung: Ngày tháng năm làm văn bản thông báo; Tên Tòa án đã thụ lý hồ sơ; Số ngày tháng năm thụ lý hồ sơ; Tên Cơ quan đề nghị; Họ và tên, địa chỉ của người bị đề nghị; Biện pháp xử lý hành chính được đề nghị áp dụng (khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh).

Thông báo về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải đúng mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015.

– Sau khi kiểm sát thông báo thụ lý, Kiểm sát viên được phân công vào sổ thụ lý để theo dõi. Đồng thời, tham mưu cho Lãnh đạo viện phân công Kiểm sát viên thực hiện việc tham gia phiên họp. Thông báo về việc phân công Kiểm sát viên tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Thứ hai: Kiểm sát các quyết định của Thẩm phán ban hành:

– Kiểm sát thời hạn ra quyết định: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Thẩm phán được phân công trong việc xử lý hồ sơ, Thẩm phán phải quyết định về một trong các nội dung sau (khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh số 09): Yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ; Đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; Mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

– Kiểm sát hình thức của quyết định: Hình thức các quyết định trên phải theo đúng mẫu ban hành kẻm theo Nghị quyết số 04/

– Kiểm sát nội dung quyết định mở phiên họp: Thời hạn mở phiên họp ( 07 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định); Thời hạn gửi quyết định cho Viện kiểm sát (chậm nhất là 03 ngày làm việc trước khi mở phiên họp); Nội dung quyết định phải có: Họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú của người bị đề nghị; Tên cơ quan đề nghị, biện pháp xử lý hành chính được đề nghị áp dụng; Ngày tháng năm địa điểm mở phiên họp; Họ tên Thẩm phán, Thư ký, những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp.

– Kiểm sát việc tống đạt quyết định mở phiên họp cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (trình tự thủ tục thực hiện theo Điều 1 Nghị quyết số 04).

 

3.2.Nghiên cứu hồ sơ:

Do Pháp lệnh 09 không quy định về việc Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để nghiên cứu mà chỉ quy định Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án đã thụ lý vụ việc sau khi nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án. Để chủ động trong việc nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên được phân công phải bố trí thời gian phù hợp để nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án trong giai đoạn Tòa án ra quyết định mở phiên họp và gửi cho Viện kiểm sát (đối với những việc Tòa án mở phiên họp; Đối với những trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án thì Kiểm sát viên có thể bố trí thời gian nghiên cứu hồ sơ trong giai đoạn sau khi nhận thông báo thụ lý).

Khi nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên họp Kiểm sát viên cần lưu ý:

-Đối tượng bị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 136.

-Thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, quy định tại: Khoản 2 Điều 105 Luật XLVPHC; Điều 3 Pháp lệnh 09;

– Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc qui định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 04. (Lưu ý: Về thời hiệu đối với người bị đề nghị có nơi cư trú ổn định còn được quy định cụ thể tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định 136).

– Thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của người đề nghị: Cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 8 Nghị định 221; quy trình lập hồ sơ, tài liệu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, được quy định trong Quyết định 3752.

 (Nội dung cần nghiên cứu: Sự kiện pháp lý – lý do theo đề nghị của cơ quan đề nghị, bao gồm: Đối tượng bị đề nghị ; Thẩm quyền của Tòa án thụ lý xem xét, quyết định; Cơ quan thiết lập hồ sơ; Các tài liệu, quyết định được ban hành có đúng hình thức, thẩm quyền theo quy định của pháp luật hay không?, Nội dung các tài liệu có bảo đảm theo yêu cầu không; Cơ quan đề nghị; Thời hiệu áp dụng.)

3.3.Xây dựng báo cáo tổng hợp, đề xuất của KSV.

Qua kết quả việc nghiên cứu hồ sơ, KSV xây dựng báo cáo tổng hợp đề xuất để giải quyết vụ việc tới lãnh đạo xét duyệt trước khi tham gia phiên họp. Nội dung báo cáo tổng hợp phải được thể hiện các nội dung:

– Nội dung sự việc (Sự kiện pháp lý –Lý do đề nghị)

Thông qua các tài liệu, Kiểm sát viên phải xác định được: Có đủ điều kiện người bị đề nghị thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Nghị định 136?; Trình tự, thủ tục lập hồ sơ có được các cơ quan chức năng, thẩm định, đề nghị có đúng thủ

tục không?; Có đúng về hình thức, thẩm quyền không?; Giá trị chứng minh của các tài liệu; các văn bản pháp luật được áp dụng đối với các tài liệu đó, đánh giá, nhận xét các tài liệu đó có được lập, ban hành có đúng hình thức, đúng thẩm quyền, đúng nội dung theo quy định hay không?, Nội dung đề nghị có đúng pháp luật không?, còn thời hiệu áp dụng không?.

-Việc tuân thủ thủ tục xem xét, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật.

– Nhận xét đáng giá tổng hợp:

+ Trước tiên căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, phải xác định thẩm quyền việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không? Căn cứ pháp luật ?.

+ Đối tượng bị đề nghị có đủ điều kiện theo quy định hay không? Căn cứ pháp luật?.

+Thời hiệu áp dụng?, Căn cứ pháp luật?.

+Trình tự thủ tục thiết lập hồ sơ của các cơ quan chứ năng, của người đề nghị có đúng pháp luật hay không? Căn cứ pháp luật?.

+ Những vi phạm của các cơ quan tiến hành lập hồ sơ, việc tuân theo pháp luật thủ tục của Tòa án (Nếu có), quan điểm xử lý của Kiểm sát viên.

+Đề xuất nhận xét, đánh giá có đủ căn cứ chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị không?, Nếu đủ điều kiện chấp nhận, thời hạn áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc?, Căn cứ pháp luật?.

(Căn cứ pháp luật phải nêu cụ thể Điểm; Khoản; Điều; Văn bản quy phạm pháp luật áp dụng).

Phiếu đề xuất phải có ý kiến phê duyệt của lãnh đạo Viện và được lưu trong hồ sơ kiểm sát.

3.4.Xây dựng ý kiến phát biều của KSV tại phiên họp.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp, là kết quả nghiên cứu hồ sơ của Kiểm sát viên được Lãnh đạo Viện phân công thực hiện, hình thức, nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định tại Mẫu số 03/PL09 ban hành kèm theo Hướng dẫn số 17.

Bài phát biểu Kiểm sát viên là một văn bản pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát trong trình tự, thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, thẩm định hồ sơ của Tòa án trong giai xem xét, quyết định. Tại phiên họp, bài phát biểu của kiểm sát viên là một công cụ quan trọng để thể hiện quan điểm về toàn bộ việc chấp hành pháp luật về trình tự, thủ tục của Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia phiên họp, ý kiến quan điểm của Viện kiểm sát nhân

dân đối với đề nghị của cơ quan đề nghị đối với người bị đề nghị. Ngoài ra, còn thể hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát đối với những vi phạm của Tòa án, đảm bảo việc ra quyết định của Tòa án có căn cứ và đúng pháp luật. Thông qua bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khẳng định được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định trong Pháp lệnh 09. Bài phát biểu là nguồn tài liệu quan trọng để Thẩm phán tham khảo, xem xét ra một quyết định có căn cứ và đúng pháp luật. Do vậy, cần phải hiểu và thực hiện đúng quy định về bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát và vị thế của Viện kiểm sát tại phiên họp./.

Trước hết bài phát biểu của Kiểm sát viên phải nêu được căn cứ pháp luật quy định thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, của Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Cụ thể được quy định tại:

-Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014:

“Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật”.

-Khoản 1; khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh số 09:

“Điều 4. Kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

  1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.
  2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này”.

-Điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh 09.

“Điều 20. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

  1. Thủ tục phiên họp được tiến hành như sau:
  2. g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”;

Căn cứ vào các quy định trên, thể hiện: Nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, bao gồm hai nội dung chính:

(Trước hết phải nêu được tóm tắt nội dung sự việc).

-Một là: Kiểm sát việc chấp hành pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án, từ khi tiếp nhận hồ sơ đến khi mở phiên họp, bao gồm công tác kiểm sát sau:

+Kiểm sát thông báo về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Về hình thức, nội dung thông báo thụ lý phải tuân thủ theo Mẫu số 01-ban hành kèm theo Nghị quyết 04; Ngày ban hành thông báo thụ lý phải đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh 09; Tòa án thụ lý phải đúng thẩm quyền xem xét, quyết định theo khoản 2 Điều 105 Luật XLVPHC; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09.

+Kiểm sát Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Về hình thức, nội dung quyết định phải tuân thủ theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị quyết 04; Ngày ban hành quyết định đúng thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh số 09; Ngày mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh số 09.

+Kiểm sát thành phần phiên họp; Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp; Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp – Các nội dung trên được quy định tại các Điều 17; Điều 18; Điều 20 Pháp lệnh số 09.

+Kiểm sát việc gửi các văn bản quyết định do Tòa án, Thẩm phán ban hành theo quy định cho: Người bị đề nghị; Cơ quan đề nghị; Viện kiểm sát cùng cấp.

Thông qua công tác kiểm sát các nội dung trên, Kiểm sát viên có ý kiến, quan điểm về việc tuân thủ, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của cơ quan Tòa án, của Thẩm phán được phân công giải quyết…

-Hai là: Kiểm sát nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị đối với người bị đề nghị (Kiểm sát nội dung việc):

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, việc kiểm sát nội dung việc gồm các nội dung sau:

+Kiểm sát người bị đề nghị phải đúng đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật XLVPHC; Điều 3 Nghị định 136.

+Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết 04.

(Lưu ý: Về thời hiệu đối với người bị đề nghị có nơi cư trú ổn định còn được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định 136).

+Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Tài liệu có trong hồ sơ phải được lập đúng quy trình; Tài liệu đầy đủ theo quy định; Đúng quy định về thẩm quyền; Có nội dung đủ điều kiện (hoặc không đủ điều kiện) áp dụng đối với người bị đề nghị. (Căn cứ pháp luật quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ).

Căn cứ nội dung trên, Kiểm sát viên có ý kiến, quan điểm chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị đối với người bị đề nghị.

Nếu có căn cứ chấp nhận, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị theo khoản 2 Điều 95 Luật XLVPHC.

(Lưu ý: Thời hạn đề nghị Tòa án áp dụng không nên đưa ra một thời hạn cố định vì khoản 2 Điều 95 Luật XLVPHC quy định thời hạn áp dụng từ 12 đến 24 tháng)

Tóm lại: Bài phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải đầy đủ các nội dung lý do; căn cứ pháp luật áp dụng về: Quyền hạn, nhiệm vụ của Viện kiểm sát; Của Kiểm sát viên, Nội dung sự việc; Nhận định việc tuân thủ thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án; Của Thẩm phán từ khi tiếp nhận hồ sơ cho đến khi mở phiên họp; Có quan điểm về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị đối với người bị đề nghị. Thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị nếu phát hiện Tòa án có vi phạm.

Trên đây là một số nội dung cơ bản về nội dung nâng cao chất lượng bài phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân. Phòng 10- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu lên để các đơn vị VKSND cấp huyện trong tỉnh Thái Nguyên nghiên cứu, áp dụng bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát tỉnh Thái Nguyên đạt kết quả tốt trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đạt kết quả tốt.

Nơi nhận:                                                      

 – Lãnh đạo Viện tỉnh (b/c);

– Vụ 10-VKSTC (b/c);

– 9 VKS cấp huyện (n/c);

– Lưu VT-P10.

 

 

                                                                         

 

T/L VIỆN TRƯỞNG

TRƯỞNG PHÒNG

 

 

 

Lê Văn Mạnh

 

 

                                                                     

Các Bài Viết Cùng Thể Loại