CHUYÊN ĐỀ: Hạn chế các bản án, quyết định giải quyết án Hành chính, vụ việc KDTM; Lao động của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên xét xử quyết định Hủy, sửa nghiêm trọng của VKS hai cấp tỉnh Thái Nguyên.

23 Tháng Mười, 2018 Bài viết nổi bật, Slider, Văn Bản

 

CHUYÊN ĐỀ

 

Hạn chế các bản án, quyết định giải quyết án Hành chính, vụ việc KDTM; Lao động của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên xét xử quyết định Hủy, sửa nghiêm trọng của VKS hai cấp tỉnh Thái Nguyên.

 

Căn cứ: Chỉ thị số 01/CT-VKSNDTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng VKSND Tối cao về công tác của Ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018.

-Kế hoạch công tác của Ngành Kiểm sát Thái Nguyên năm 2018 – số 01/KH-VKS ngày 05/01/2018 của Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên.

– Hướng dẫn số 07/HD-VKSTC ngày 05/01/2018 của Vụ 10 – VKSND Tối cao về: Hướng dẫn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

-Kế hoạch công tác kiểm sát trọng tâm 6 tháng cuối năm 2018 số 268 /KH-VKS ngày 18/6/2018 của Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên;

-Chương trình công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật năm 2018 của Phòng 10 VKSND tỉnh Thái Nguyên.

Thức hiện kế hoạch số 91/ KH-VKS ngày 26/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, về việc thực hiện chuyên đề: “Hạn chế các bản án, quyết định giải quyết án hành chính,các vụ việc kinh doanh thương mại, Lao động của Tòa án cấp dưới bị Tòa án nhân dân cấp trên tuyên hủy, sửa nghiêm trọng của VKS hai cấp tỉnh Thái Nguyên”.

I.MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU

1.Mục đích tổng hợp nội dung việc thực hiện công tác kiểm sát giải quyết án Hành chính; các vụ việc KDTM; Lao động là nhằm đánh giá những kết quảđãđạtđược, đồng thời chỉ ra những tồn tại trong công tác thực hiện trên cơ sởđónâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để cụ thể hóa, thực hiện tốt nhiệm vụ này, bảo đảm việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động kịp thời, đúng quy định của pháp luật và khắc phục những mặt còn tồn tại, hạn chế nhất là đối với những bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên xét xử hủy, sửa nghiêm trọng có trách nhiệm của Kiểm sát viên, qua đó cần có những giải pháp đột phá mạnh mẽ hơn, đổi mới hơn cả về nhận thức và hành động.

2.Yêu cầu tổng hợp nội dung kết quả thực hiện công tác kiểm sát giải quyết án Hành chính; vụ việc KDTM; Lao động trong thời điểm thực hiện chuyên đề, phân tích, đánh giáđược việc tuân thủ thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo quy định của pháp luật, nhất là công tác thực hiện chức năng yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKS theo quy định của pháp luật. Việc tuân thủ quy chế công tác kiểm sát việc giải quyếtán hành chính, các vụ việc KDTM; Lao động của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành. Thông qua đó đề ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyếtán hành chính, vụ việc KDTM; Lao động.

II.KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ÁN HÀNH CHÍNH, CÁC VỤ VIỆC KDTM; LAO ĐỘNG TRONG THỜI GIAN QUA (Từ ngày 01/12/2015 đến 31/5/2018).

1.Tình hình thụ lý, kiểm sát giải quyết sơ thẩm các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động của Tòa án hai cấp

– Tổng số vụ Tòa án thụ lý, giải quyết sơ thẩm 311 vụ. (trong đó án HC: 129 vụ; án KDTM: 167 vụ; án LĐ: 15 vụ).

–  Đã giải quyết: 196 vụ

+ Đình chỉ giải quyết: 74 vụ (án HC 19 vụ; án KDTM: 48 vụ; án LĐ: 7 vụ).

+ CNSTT: 41 vụ (án KDTM: 39 vụ, án LĐ: 2 vụ).

+ Xét xử:  81 vụ (án HC 54 vụ; án KDTM: 25 vụ; án LĐ: 2 vụ).

+Tạm ĐC:21 vụ (án HC 1 vụ; án KDTM: 18 vụ; án LĐ: 2 vụ).

+Đang giải quyết 94 vụ (án HC 55 vụ; án KDTM: 37 vụ; án LĐ:2 vụ).

2.Tình hình thực hiện công tác kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động của Tòa án hai cấp:

+Tổng số bản án, quyết định 217được kiểm sát:

-Số kiến nghị ban hành yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm: 09 bản kiến nghị được Tòa án chấp nhận:

-Số kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm: 05 kháng nghị, kết quả được Tòa án chấp nhận 05.

3.Tình hình thụ lý, kiểm sát giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính, các vụ việc kinh doanh thương mại, lao động .

+Tổng số thụ lý: 41 vụ.(trong đó án HC: 21 vụ ; KDTM:17 vụ;LĐ: 3 vụ).

+Đã giải quyết: 39 vụ(trong đó án HC:19vụ; KDTM:17vụ; LĐ: 3vụ).

+ Số vụ bị cấp phúc thẩm sửa án: 13 vụ(có án HC:9 vụ; KDTM: 2 vụ; LĐ: 2 vụ).

Trong đó sửa toàn bộ bản án : 03 vụ (án HC 02 vụ; án LĐ: 01 vụ).

+ Số vụ bị cấp phúc thẩm hủy án là: 3 vụ (trong đó án HC:2 vụ ; KDTM:1vụ).

+Số vụ án báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm: 03 vụ ( án hành chính: 03 vụ). Được chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm: 03 vụ.

– Tỷ lệ kháng nghị / số án bị sửa, hủy: 5/16 = 31,25 %;

– Tỷ lệ kháng nghị được chấp nhận: 5/5 =100%.

Thông qua công tác xét xử phúc thẩm, Phòng 10 đã ban hành: 16 bản thông báo rút kinh nghiệm.

4.Những kết quả đạt được:

Thực hiện Chỉ thị số 04/CT-VKSTC-VPT1 ngày 17/5/2012, về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính; Chỉ thị số 10/CT- VKSTC ngày 06/4/2016 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, hành chính của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thời gian qua Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Nguyên đã quan tâm chỉ đạo thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động. Kế hoạch công tác kiểm sát hàng năm của Viện kiểm sát hai cấp đều xác định chỉ tiêu về kháng nghị phúc thẩm là tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả công tác kiểm sát.

Qua kiểm sát việc thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, Viện kiểm sát hai cấp đã phát hiện được một số vụ có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, nội dung giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm để ban hành kháng nghị.

Trong kỳ Viện kiểm sát hai cấp ban hành 05 kháng nghị phúc thẩm(Trong đó VKS cấp huyện báo cáo đề nghị VKS cấp tỉnh kháng nghị 02 vụ).Báo cáo đề nghị VKS Cấp cao tại Hà Nội: Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 01 vụ, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 03 vụ.

Các kháng nghị đều được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo vệ, tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận đạt 100%.

Các báo cáo đề nghị VKS Cấp cao kháng nghị: Chấp nhận kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 01vụ; chấp nhận kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 03 vụ

Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp trong công tác kháng nghị phúc thẩm đãcó những chuyển biến tích cực. Quá trình thực hiện, khi gặp khó khăn, vướng mắc, Viện kiểm sát cấp huyện đã kịp thời báo cáo, xin ý kiến, trao đổi nghiệp vụ với Viện kiểm sát tỉnh, Phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn Viện kiểm sát cấp huyện về hướng xác định vi phạm để kịp thời ban hành kháng nghị, báo cáo đề nghị VKS tỉnh kháng nghị, chỉ đạo Viện kiểm sát cấp huyện thu thập tài liệu, củng cố các căn cứ để bảo vệ thành công kháng nghị của Viện kiểm sát đã ban hành.

5.Một số hạn chế, thiếu sót trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động trong thời gian qua và nguyên nhân :

5.1. Thiếu sót, tồn tại trong công tác kiểm sát việc lập hồ sơ của Tòa án, trong việc nghiên cứu, báo cáo đề xuất hướng giải quyết vụ án trước khi tham gia phiên tòa:

Qua kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động ở giai đoạn phúc thẩm, Phòng nghiệp vụ thấy các vụ án bị Tòa cấp phúc thẩm sửa, hủy trong thời gian qua mà không được Viện kiểm sát phát hiện vi phạmđể kháng nghị, đều có lỗi của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm do chưa làm tốt công tác kiểm sát lập hồ sơ, chưa nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ để báo cáo đề xuất đường lối giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật. Cụ thể:

– Quá trình kiểm sát lập hồ sơ, chưa chú trọng kiểm tra tính hợp pháp trong việc thụ lý vụ án của Tòa án nên không phát hiện được việc Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện không đúng thẩm quyền; quá trình giải quyết vụ án Tòa án không đánh giá đầy đủ chứng cứ, áp dụng không đúng pháp luật:

“Vụ án hành chính người khởi kiện là ông Trương Văn Khánh, trú tại xã Hóa Trung, huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái Nguyên;Người bị kiện là Chủ tịch UBND xã Hóa Trung.

Tại thông báo thụ lý số 02/2014/TB-TLVA ngày 2/10/2014, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện cụ thể: Xem xét hành vi vi phạm pháp luật về thủ tục hành chính và tư cách đạo đức của ông Phạm Văn Bẩy – Chủ tịch UBND xã Hóa Trung.

Quyết định hành chính bị kiện do Chủ tịch UBND xã Hóa Trung ban hành thiếu căn cứ, không xác định mức thiệt hại để xác định mức phạt tiềnlàm căn cứ xác định thẩm quyền xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định số 105/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính Phủ về quy định xử phạt hánh chính trong lĩnh vực đất đai; Chủ tịch UBND xã ban hành quyết định xử lýkhông đúngthẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết đã bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Bản án bị Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. HĐXX phúc thẩm đã áp dụng khoản 3 Điều 205 Luật TTHC năm 2010 hủy toàn bộ bản án sơ thẩm”.

– Chưa chú trọng xem xét, đánh giá về tính hợp pháp, đầy đủ trong việc lập hồ sơ của Tòa án nên không phát hiện được những vi phạm nghiêm trọng trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người đại diện theo ủy quyền của Tòa án:

“Vụ án KDTM nguyên đơn: Công ty TNHH -MTV quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC); Bị đơn là: Công ty TNHH thương Mại Nhật Minh.

Nguyên đơncó văn bản ủy quyền số 02/2015/UQ-HĐQT ngày 11/02/2015 Ủy quyền cho ông Phạm Tuấn Anh – Chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng SME cá nhân tham gia tố tụng. Văn bản ủy quyền có hiệu lực trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 11/02/2015. Căn cứ văn bản ủy quyền trên, ngày 23/01/2017 ông Phạm Tuấn Anh có văn bản ủy quyền số 1245/2017/UQ-VPB ủy quyền lại cho ông Nguyễn Vũ Đức đại diện cho Nguyên đơn tham gia tố tụng. Đến ngày 20/11/2017 Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử, Thời hạn đã quá thời hạn 02 năm đãhết thời hạn ông Phạm Tuấn Anh đượcNguyên đơn ủy quyền tham gia tố tụng, đồng thời đương nhiênngười được ông Phạm Tuấn Anh ủy quyền lạikhông có đủ tư cách tham gia tố tụng. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận cho ông, Nguyễn Vũ Đức đại diện cho Nguyên đơn tham gia tố tụng; Là vi phạm vào khoản 2 Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó HĐXX phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 310 BLTTDS 2015, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm”.

– Không nghiên cứu kỹ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án khi báo cáo đề xuất xử lý, chuẩn bị nội dung tham gia phiên tòa nên không phát hiện được sai lầm của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật, quyết định giải quyết vụ án không đúng pháp luật:

+ Vụ án hành chính giữa người khởi kiện là ông Hồ Viết Lục- trú tại phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên; Người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng. Xuất phát từ việc năm 2011 ông Lục có hành vi vi phạm xây dựng công trình trên đất không được phép xây dựng, Năm 2014 UBND phường Phan Đình Phùng phát hiện, nhưng không lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, tiến hành thực hiện biện pháp cưỡng chế, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép không tuân thủ theo trình tự, thủ tục cưỡng chế hành chính (không có quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; không có quyết định cưỡng chế). Ông Lục khởi kiện hành vi hành chính của Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng là trái pháp luật.Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, bác yêu cầu khởi kiện của ông Lục. Bản án bị kháng cáo, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Chủ tịch UBND phường Phan Đình Phùng, thực hiện hành vi hành chính cưỡng chế, tháo dỡ công trình của gia đình ông Lục xây dựng trên đất không được phép xây dựng, đã không tuân thủ trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính, nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 241 LTTHC, quyết định sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện”.

Tất cả các trường hợp nêu trên, do không kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ vụ án nên Kiểm sát viên không phát hiện các vi phạm nghiêm trọng tố tụng của Tòa án và vi phạm trong việc thu thập chứng cứ. Kiểm sát viên cũng không nghiên cứu kỹ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên không phát hiện được sai lầm của bản án sơ thẩm trong việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án. Vì vậy, không đề xuất được việc kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền. Qua kiểm tra phiếu kiểm sát bản án sơ thẩm, phòng nghiệp vụ không thể phát hiện được các vi phạm này mà phải đến lúc tiếp cận hồ sơ vụ án để tham gia xét xử phúc thẩm mới xác định được vi phạm thì không còn thời gian để ban hành kháng nghị.

5.2. Thiếu sót, tồn tại trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án:

– Chưa kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động của Tòa án cùng cấp nên bỏ sót hoặc không phát hiện được vi phạm;

“Cụ thể vụ án hành chính, người khởi kiện chị Cao Thị Huệ, trú tại thị trấn Hương sơn, huyện Phú Bình. Người bị kiện: Trưởng Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 05/10/2016 chị Huệ có đơn khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0081953/QĐ-XPHC ngày 14/9/2016 của Trưởng Công an huyện Phú Bình.Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án, căn cứ vào các tài liệu, đã ban hành quyết định số 01/2017/QĐST-HC ngày 25/12/2017 đình chỉ giải quyết vụ án, lý do hết thời hiệu khởi kiện, Chị Huệ có đơn kháng cáo. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 06/10/2016 chị Huệ nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Quyết định bị kiện), ngày 05/10/2017 chị Huệ có đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án cấp sơ thẩm, như vậy ngày xác định là ngày 07/10/2016 đến ngày 05/10/2017, có thời hạn trong 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định hành chính đến ngày nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính, trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 LTTHC. Do đó HĐXX đã áp dụng điểm c khoản 5 Điều 243 LTTHC, quyết định hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết theo quy định.”

– Một số trường hợp gửi phiếu kiểm sát cùng với bản án, quyết định gửi lên Viện kiểm sát tỉnh chậm nên phòng nghiệp vụ không còn thời gian rút hồ sơ nghiên cứu phục vụ việc kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền:

5.3- Nguyên nhân tồn tại, thiếu sót:

Đánh giá chung:

Về số lượng kháng nghị: Trong thời gian từ 01/12/2015 đến 31/5/2018, số án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động sơ thẩm toàn tỉnh bị cấp phúc thẩm sửa, hủy là 16 vụ, số kháng nghị phúc thẩm Viện kiểm sát hai cấp ban hành là 5 kháng nghị, đạt tỷ lệ: 5/16 = 31, 25%.

Về chất lượng kháng nghị: Các bản kháng nghị đã ban hành đều được chấp nhận, đạt 100%. Tuy nhiên, do số lượng kháng nghị ban hành ít, không có trường hợp nào có nhiều vi phạm xẩy ra trong cùng một bản án sơ thẩm đã bị kháng nghị, nên tỷ lệ này cũng chưa nói lên được hoàn toàn về chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm trong thời gian qua.

Nguyên nhân công tác kháng nghị phúc thẩm trong thời gian qua còn hạn chế, một phần là do các tranh chấp trong lĩnh vực hành chính, kinh doanh thương mại rất phức tạp, trong khi đó một số quy định của pháp luật còn bất cập, các văn bản hướng dẫn (nhất là trong lĩnh vực tố tụng hành chính) ít nên gặp khó khăn trong công tác kiểm sát, phát hiện vi phạm. Nhưng còn có nguyên nhân do tinh thần trách nhiệm, trình độ năng lực của cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động chưa đáp ứng tốt so với yêu cầu công tác, cụ thể:

– Một số trường hợp Kiểm sát viên năng lực chuyên môn chưa cao hoặc còn thiếu trách nhiệm trong khi kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án nên không phát hiện được các vi phạm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án, thu thập, xác định, đánh giá chứng cứ, lãnh đạo Viện chưa chú trọng công tác kiểm tra nghiệp vụ, chưa kiểm tra kỹ kết quả báo cáo đề xuất xử lý án nên không phát hiện kịp thời thiếu sót của Kiểm sát viên.

– Chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án chưa cao, chưa phát hiện được hết các vi phạm để xử lí.

– Khi phát hiện vi phạm, việc đề xuất xử lý có trường hợp chưa kịp thời, còn có biểu hiện né tránh, ngại va chạm giữa Viện kiểm sát và Tòa án cùng cấp hoặc với chính quyền địa phương (đặc biệt là đối với các vụ án hành chính).

–  Sự phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp trong công tác kháng nghị phúc thẩm có lúc chưa chặt chẽ. Một số trường hợp Viện kiểm sát cấp huyện gửi phiếu kiểm sát và bản án, quyết định sơ thẩm lên Viện kiểm sát cấp trên chưa kịp thời nên Viện kiểm sát cấp trên không còn thời gian để rút hồ sơ nghiên cứu, xác định vi phạm để thực hiện thẩm quyền kháng nghị trên một cấp.

– Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án cùng cấp ở một số đơn vị chưa tốt. Một số Tòa án cấp sơ thẩm chưa chấp hành nghiêm các quy định của Luật TTHC, Bộ luật TTDS về thời hạn chuyển hồ sơ, thời hạn gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát. Trong thực tế, đã có trường hợp xẩy ra việc Tòa án biết Viện kiểm sát phát hiện vi phạm nên cố tình gửi bản án, quyết định chậm, hoặc cố tình sửa chữa, bổ sung bản án, bổ sung hồ sơ không đúng quy định, gây khó khăn cho việc kháng nghị phúc thẩm.

Số liệu trên phản ánh thực trạng công tác kiểm sát giải quyết án hành chính, vụ việc KDTM; LĐ tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:

Thứ nhất: Số vụ án bị hủy, sửa của Tòa án do lỗi chủ quan của Thẩm phán và do lỗi chủ quan của Kiểm sát viên đều có xu hướng tăng cao. Chất lượng công tác lập hồ sơ, kiểm sát giải quyết án, kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, do đó số kháng nghị phúc thẩm tỷ lệ còn thấp so với số lượng bản án, quyết định bị Tòa án phúc thẩm xét xử hủy, sửa.

Công tác ban hành văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát nội dung không sâu, chủ yếu là kiến nghị vi phạm về thời hạn, việc chậm gửi các văn bản tố tụng, nên chất lượng và hiệu lực, hiệu quả còn có những hạn chế nhất định; nhiều dạng vi phạm về tố tụng vi phạm về nội dung chưa được phát hiện kịp thờiđể thực hiện chức năngkiến nghị và yêu cầu khắc phục triệt để.

Thứ hai, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân công, phân nhiệm trong tập thể lãnh đạo một số đơn vị cấp huyện còn chậm đổi mới, chưa có sự đầu tư bài bản, chuyên sâu về nghiệp vụ và chưa thật sự quyết liệt, tâm huyết với nhiệm vụ trong lĩnh vực công tác kiểm sát giải quyết án hành chính, các vụ việc KDTM và lao động. Còn tình trạng coi nhẹ, nể nang xuôi chiều với quan điểm giải quyết của Tòa án. Nhiều đơn vị chỉ phân công 01 Kiểm sát viên phụ trách công tác này với vai trò làm việc kiêm nhiệm (01 Kiểm sát viên phụ trách nhiều khâu công tác) và số cán bộ lãnh đạo phụ trách, Kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác này không nhiều.

Thứ ba, công tác tự đào tạo và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ tuy đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu. Về phiên tòa rút kinh nghiệm mặc dù đã đạt chỉ tiêu số lượng nhưng Viện kiểm sát tham gia trong lĩnh vực công tác kiểm sát giải quyết án hành chính, các vụ việc KDTM; LĐ còn khiêm tốn; chất lượng phiên tòa rút kinh nghiệm có nơi chưa đạt yêu cầu, chưa thật sự tạo được môi trường tích cực để Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, cán bộ tự học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ.

Thư tư: Một số đơn vị cấp huyện khi kiểm sát giải quyết các tranh chấp phức tạp như: Tranh chấp về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyền sử dụng đất, các chính sách Nhà nước về thu hồi, bồi thường về quyền sử dụng đất; tài sản trên đất; các vụ việc kinh doanh thương mại có liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất, tranh chấp về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất… còn lúng túng về kỹ năng nghiệp vụ, trình tự thủ tục tố tụng hoặc chưa nắm vững các quy định của pháp luật nội dung, dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật, không phát hiện hoặc chậm phát hiện vi phạm nên không kịp thời kiến nghị, kháng nghị.

Về nguyên nhân khách quan:

– Trong những năm qua, các chính sách, văn bản pháp luật về đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình, dân sự, kinh doanh thương mại, doanh nghiệp, hoạt động tín dụng…có nhiều thay đổi; một số văn bản pháp luật mâu thuẫn, chưa được các cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhận thức, áp dụng pháp luật.

– Các vụ án bị hủy án, sửa án đa số là những vụ án có tính chất phức tạp, được điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp luật nội dung rộng, qua nhiều thời kỳ điều chỉnh sự quản lý của Nhà nước, như lĩnh vực đất đai, nhà ở. Bên cạnh đó, một số địa phương thường xuyên có biến động về đất đai, giá trị quyền sử dụng đất tăng đột biến; công tác quản lý, điều hành Nhà nước trong lĩnh vực đất đai một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu đề ra còn nhiều sai sót trong việc áp dụng pháp luật, như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một số địa phương còn nhiều sai sót về điều kiện cấp QSD đất; việc đo đạc, cấp chồng chéo các thửa đất, cấp đất không đúng diện tích thực tế sử dụng, cấp không đúng trình tự, thủ tục…dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất ngày càng phức tạp. Việc hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp đất đai còn mang tính hình thức, chưa được chú trọng đúng mức. Một số cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai không hợp tác và không cung cấp chứng cứ cho Tòa án hoặc không trả lời xác minh của Tòa án theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết án có liên quan đến đất đai, dẫn đến việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở cấp sơ thẩm gặp nhiều khó khăn.

Về nguyên nhân chủ quan:

– Công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc KDTM, lao động chưa thật sự được coi trọng và đầu tư các nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt, nhất là đối với các đơn vị cấp huyện.

– Một số Kiểm sát viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; năng lực, trình độ chưa đồng đều (nhiều Kiểm sát viên mới bổ nhiệm được phân công làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính). Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có lúc, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ và khối lượng công việc cũng như sự đa dạng, tính chất phức tạp của án hành chính, KDTM, lao động trong tình hình hiện nay.

– Còn tồn tại tâm lý nể nang, coi nhẹ nên thiếu sự chủ động, chậm đổi mới trong việc tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ; chưa nêu cao tinh thần học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, ít nghiên cứu văn bản pháp luật, không nắm bắt kịp thời hướng dẫn của cấp trên cũng như sự thay đổi trong chính sách pháp luật nên năng lực và trình độ chuyên môn còn hạn chế, hiệu quả công tác chưa cao.
– Nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát giải quyết vụ án không kỹ, bỏ sót hoặc không tuân thủ đầy đủ quy trình nghiệp vụ, dẫn đến không phát hiện được vi phạm hoặc còn chủ quan khi nhận định về tính chất, mức độ của vi phạm không chính xác nên không tham mưu thực hiện được quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị phù hợp.
III. GIẢI PHÁP

Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018 đã xác định: “Năm 2018, toàn Ngành xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để cụ thể hóa, thực hiện tốt nhiệm vụ này, bảo đảm việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc KDTM, lao động kịp thời, đúng quy định của pháp luật và khắc phục những mặt còn tồn tại, hạn chế như đã phân tích nêu trên cần thiết phải có những giải pháp đột phá mạnh mẽ hơn, đổi mới hơn cả về nhận thức và hành động.

Trong khuôn khổ của chuyên đề, đề xuất 04 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nhóm giải pháp đổi mới về nhận thức

Một là đổi mới nhận thức của Ngành về chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính:

 Toàn Ngành đã xác định việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việcKDTM, lao động là “Nhiệm vụ trọng tâm”. Điều này khẳng định về mặt nhận thức, đã có bước đổi mới then chốt và quan trọng. Theo đó, giải pháp trước tiên là “Nhận thức đúng để hành động đúng”. Cần thống nhất xác định công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc KDTM, lao động là “công tác đột phá” trong toàn Ngành. Bởi công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc KDTM, lao động là một bộ phận quan trọng của chức năng Kiểm sát hoạt động tư pháp và là công việc rất khó khăn, phức tạp. Do vậy, để bảo đảm thực hiện tốt công tác này, cần có sự đánh giá, nhìn nhận, quan tâm đúng mức và sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp, nhất là các đồng chí Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện.

Mỗi đơn vị cần xây dựng kế hoạch riêng để thực hiện công tác đột phá, trong đó xác định rõ mục đích, yêu cầu, trách nhiệm, phân công nhiệm vụ và đề ra giải pháp cụ thể, thời gian, tiến độ thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện.

Từng cán bộ, Kiểm sát viên cần tiếp tục quán triệt, nhận thức đúng và đầy đủ về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính năm 2015 để nâng cao trách nhiệm trong thực thi công vụ, nhiệm vụ.

Hai là, đổi mới trong việc thông tin, tuyên truyền về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính:

 Trong nhiều năm gần đây, ngành Kiểm sát nhân dân luôn chú trọng và đẩy mạnh việc thông tin, tuyên truyền. Hoạt động này đã lan tỏa đến mọi tầng lớp nhân dân hiểu được trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; giúp người dân nâng cao nhận thức về pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và nền Pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Đồng thời đây cũng là giải pháp góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Viện kiểm sát nhân dân trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Do vậy, để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành nói chung và công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính nói riêng, chúng ta cần tiếp tục phát huy sức mạnh của “Kênh thông tin, tuyên truyền”, với tần suất nhiều hơn, sâu sắc hơn về nội dung, về vai trò của người Kiểm sát viên nhân dân.

  1. Nhóm giải pháp về quản lý, chỉ đạo điều hành

Thứ nhất, tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong việc phân công, phân nhiệm trong tập thể lãnh đạo và đảm bảo “không có vùng trống cán bộ chuyên trách” trong thực hiện các nhiệm vụ công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính, nhất là đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cần có kế hoạch tăng cường biên chế, điều động, bố trí Kiểm sát viên tương xứng với tính chất, mức độ công việc cụ thể của từng đơn vị. Trong đó chú trọng tăng cường đội ngũ Kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm công tác cùng với việc quan tâm bồi dưỡng, đào tạo những Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trẻ tuổi có năng lực.

Thứ ba, thực tiễn cho thấy các vụ án hành chính, các vụ việc KDTM, Lao động bị hủy án, sửa án nghiêm trọng có liên quan đến trách nhiệm của Viện kiểm sát thường là những vụ án về tranh chấp liên quan đến công tác quản lý của Nhà nước, đến quyền quản lý, sử dụng của cá nhân, tổ chức về đất đai, nhà ở, quyền sở hữu tài sản, hợp đồng dân sự…Do vậy, để hạn chế đến mức thấp nhất án bị hủy, sửa nghiêm trọng có trách nhiệm của Kiểm sát viên và nâng cao trách nhiệm của tập thể, cá nhân, cần lưu ý đối với những vụ án phức tạp như đã nêu trên hoặc đối với những vụ án Viện kiểm sát xem xét kháng nghị phúc thẩm, các đơn vị quy định và thực hiện quy trình Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến về đường lối giải quyết vụ án với tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát, nhằm phát huy tối đa trí tuệ của tập thể, bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật.

         Thứ tư, xây dựng quan hệ phối hợp với Tòa án nhân dân trong công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc KDTM, lao động để thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của Ngành. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng Quy trình kiểm sát giải quyết án hành chính, vụ việc KDTM, lao động phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn, về kỹ năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ để thống nhất áp dụng, nâng cao chất lượng công tác.

Thứ năm, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 28/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao về tăng cường việc thỉnh thị, trả lời thỉnh thị, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc, thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp. Duy trì và tăng cường phối hợp, trao đổi giữa Viện kiểm sát cấp trên với Viện kiểm sát cấp dưới và trao đổi, tham khảo kinh nghiệm với các đơn vị đã làm tốt, có nhiều sáng kiến, kinh nghiệm hoặc cách làm đạt hiệu quả cao trong công tác kiểm sát bản án, quyết định, công tác thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; Qua đó học tập, nhân rộng các điển hình làm tốt, hỗ trợ cho nhau để hoàn thành tốt công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính, tố tụng dân sự gắn với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.

  1. Nhóm giải pháp về đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ

Một là, tăng cường tự đào tạo thông qua việc tổ chức có chất lượng các phiên tòa rút kinh nghiệm; các văn bản thông báo rút kinh nghiệm; hướng dẫn, trao đổi, thỉnh thị về nghiệp vụ.

 Viện kiểm sát cấp tỉnh trong phạm vi địa hạt cũng cần nghiên cứu phương án tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm theo cụm (từ 3 đến 5 đơn vị VKS cấp huyện/01 cụm/01 phiên tòa rút kinh nghiệm chung). Ngoài ra, Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường việc dự, chỉ đạo tại các phiên tòa rút kinh nghiệm của cấp dưới; qua đó kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh những mặt còn tồn tại, hạn chế, đồng thời tổng hợp, thông báo nhân rộng những điển hình tập thể, cá nhân Kiểm sát viên làm tốt và có cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời, tạo động lực thi đua, phấn đấu hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ.

Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm những vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị có chất lượng tốt, được Toà án xử chấp nhận kháng nghị huỷ án, sửa án nghiêm trọng để các đơn vị cấp dưới cùng nghiên cứu, học tập, rút kinh nghiệm.

Hai là, nghiên cứu xây dựng Chuyên đề kinh nghiệm, kỹ năng nhận diện và phát hiện vi phạm thông qua các vụ án hành chính, các vụ việc KDTM, Lao động bị hủy, sửa nghiêm trọng và qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án để tập huấn cho Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức làm công tác kiểm sát giải quyết án hành chính, các vụ việc KDTM, lao động

  1. Nhóm giải pháp về nghiệp vụ

Thứ nhất, tham gia có chất lượng 100% các phiên tòa, phiên họp thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia theo quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng Bản phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp. Các hoạt động này là một trong những bước tố tụng rất quan trọng để Kiểm sát viên hiểu sâu, nắm chắc toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của Tòa án trước khi ra bản án; có ý nghĩa nhiều mặt trong việc xác định và làm rõ “những vấn đề cơ bản của một vụ án hành chính, vụ việc KDTM, Lao động”, gồm: Đối tượng tranh chấp; Quan hệ pháp luật; thẩm quyền giải quyết của Tòa án; thời hạn, thời hiệu; quyền và điều kiện khởi kiện; đương sự trong vụ án; nội dung yêu cầu khởi kiện và phạm vi khởi kiện hoặc phản tố; chứng cứ và việc giao nộp, thu thập chứng cứ; pháp luật áp dụng…Từ đó, tạo tiền đề vững chắc để Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đồng thời đây cũng là bước then chốt để thực hiện có hiệu quả hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án sau phiên tòa xét xử.

Thứ hai, tăng cường kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, kịp thời phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bản án bị hủy, sửa nghiêm trọng có trách nhiệm của Viện kiểm sát. Để làm tốt công tác này, ngoài việc thực hiện các bước nghiệp vụ tiền đề nêu trên, cần phải coi việc kiểm sát bản án, quyết định của Toà án là một trong những nhiệm vụ chính, quan trọng hàng đầu, có sự hỗ trợ, bổ sung thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên toà, phiên họp và mỗi cán bộ, Kiểm sát viên phải nắm chắc “những vấn đề cơ bản của một vụ án hành chính, vụ việc KDTM, Lao động” như đã nêu ở trên.

Thứ ba, nâng cao chất lượng văn bản thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Trong đó, cần chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tham mưu, xây dựng văn bản thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị cho đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, chuyên viên làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính. Đây cũng là một trong những yêu cầu cấp bách cần được ưu tiên hàng đầu. Bởi lẽ, chất lượng công tác trong lĩnh vực này phần lớn phụ thuộc vào hiệu quả, chất lượng của việc thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị. Trong thao tác nghiệp vụ, ngoài cơ chế kiểm duyệt kỹ lưỡng trước khi ban hành, cần có những điều chỉnh linh hoạt, phù hợp, tùy tính chất và đặc điểm tình hình để yêu cầu, kiến nghị hay kháng nghị một cách triệt để và toàn diện, tránh tràn lan, chạy theo số lượng, chạy chỉ tiêu mà không đúng trọng tâm, làm giảm hiệu lực, hiệu quả các quyền năng pháp lý này. Bên cạnh đó, phải thường xuyên đôn đốc, “nhắc việc” và có biện pháp đề nghị xử lý đối với cá nhân, cơ quan, đơn vị mặc dù đã nhận được yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát nhưng không thực hiện hoặc chậm thực hiện, bảo đảm 100% các yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát được cơ quan chức năng tiếp thu, chấp nhận thực hiện.

5Một số giải pháp nhằm nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động trong thời gian tới :

Về công tác lãnh đạo, điều hành: Lãnh đạo Viện cần quan tâm bố trí đủ Kiểm sát viên có năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cho lĩnh vực công tác này. Đồng thời, quán triệt, nhận thức đúng và đầy đủ vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm, xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động. Coi trọng kết quả thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm khi xem xét, đánh giá kết quả thi đua hàng năm, cũng như thực hiện việc kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của Kiểm sát viên khi để xẩy ra việc bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng nhưng không phát hiện được để tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị ngang cấp hoặc báo cáo để Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị theo thẩm quyền.

– Chú trọng việc phổ biến, quán triệt kịp thời, đầy đủ các văn bản, quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động. Khuyến khích các Kiểm sát viên nâng cao ý thức trách nhiệm, thường xuyên tích cực học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm.

– Lãnh đạo các đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện cần tăng cường kiểm tra nghiệp vụ đối với cán bộ, Kiểm sát viên. Định kỳ sáu tháng hoặc một năm, cần kiểm tra đánh giá chất lượng xây dựng hồ sơ kiểm sát, chất lượng nghiên cứu, báo cáo tham mưu đề xuất hướng giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, rút kinh nghiệm kịp thời đối với các tồn tại, thiếu sót nếu có.

-Bảo đảm chặt chẽ, thận trọng khi phê duyệt các báo cáo đề xuất hướng giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Đối với các vụ án có tính chất phức tạp, hoặc có quan điểm khác nhau giữa Viện kiểm sát và Tòa án, lãnh đạo viện cần quan tâm nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra, đối chiếu kết quả nghiên cứu, báo cáo đề xuất của Kiểm sát viên để quyết định xử lý kịp thời khi có vi phạm của Tòa án bằng biện pháp phù hợp.

Về việc thực hiện công tác kiểm sát của cán bộ, Kiểm sát viên:

– Kiểm sát viên phải nhận thức đầy đủ và nắm vững các quy định của Bộ luật TTDS, Luật TTHC và các văn bản hướng dẫn thi hành, nắm chắc Quy chế nghiệp vụ và hướng dẫn công tác kiểm sát của Viện KSND tối cao, kế hoạch công tác hàng năm của Viện kiểm sát tỉnh. Tích cực tự nghiên cứu, cập nhật các thông tin, văn bản, quy định mới trong các lĩnh vực liên quan công tác giải quyết án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, đặc biệt chú trọng nghiên cứu các Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát cấp trên để nâng cao kỹ năng nhận diện vi phạm, áp dụng vào thực tiễn công tác kiểm sát.

– Việc kháng nghị phúc thẩm là nhằm khắc phục những vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm để bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Vì vậy, quá trình thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, khi tham mưu xử lý các vi phạm của Tòa án, cần nắm vững thẩm quyền của Viện kiểm sát về hoạt động kháng nghị, hiểu rõ tính độc lập về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát và quyền kháng cáo của đương sự. Tránh trường hợp khi bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm, làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự nhưng đương sự không kháng cáo thì Viện kiểm sát cũng không đặt vấn đề xem xét việc kháng nghị.

Về thực hiện công tác kiểm sát: Để phục vụ cho việc thực hiện chỉ tiêu kháng nghị phúc thẩm, quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, cần làm tốt các việc sau:

–  Kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ vụ án của Tòa án, Kiểm sát viên phải xây dựng hồ sơ kiểm sát đúng quy chế và phù hợp với logic của vụ, việc đang giải quyết; các tài liệu, giấy tờ, văn bản của các bên đương sự cung cấp cần phải được kiểm tra, nghiên cứu kỹ càng,thận trọng; Các vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trong vụ án phải được chứng minh đầy đủ bằng các tài liệu, chứng cứ hợp pháp. Khi kiểm sát việc lập hồ sơ của Tòa án cần lưu ý kiểm tra tính hợp pháp trong việc thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, kiểm tra việc tuân thủ trình tự, thủ tục quá trình giải quyết vụ án, thu thập, xác minh chứng cứ của Tòa án.

– Phải thực hiện tốt công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án trên cơ sở nắm chắc pháp luật về tố tụng và pháp luật về nội dung cũng như các dạng vi phạm làm căn cứ kháng nghị theo thẩm quyền. Việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án là một trong những nhiệm vụ chính, quan trọng trong lĩnh vực công tác này để kịp thời phát hiện vi phạm của Tòa án, làm cơ sở để thực hiện kháng nghị phúc thẩm có căn cứ, đúng pháp luật.

Theo dõi chặt chẽ việc chấp hành thời hạn gửi bản án, quyết định của Tòa án và lưu giữ bản án, quyết định làm căn cứ cho việc kháng nghị trong trường hợp bản án, quyết định có vi phạm, tránh việc Tòa án sửa chữa, bổ sung bản án sau khi có kháng nghị dẫn đến vô hiệu hóa quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát.

Thực hiện đầy đủ quy trình kiểm sát bản án, quyết định, lập phiếu kiểm sát đúng mẫu, trong đó ghi rõ ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, ý kiến của lãnh đạo đơn vị và gửi kịp thời, đầy đủ lên Viện kiểm sát cấp trên, bảo đảm mọi bản án, quyết định của Tòa án đều được kiểm sát chặt chẽ.

– Để kháng nghị có chất lượng tốt, thuyết phục đối với HĐXX, khi xây dựng quyết định kháng nghị, cần phải cô đọng, đầy đủ, súc tích. Lập luận phải vững chắc lý do, căn cứ pháp luật áp dụng phải chính xác. Nêu được cụ thể những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hoặc sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật nội dung. Tránh tình trạng viện dẫn căn cứ pháp luật không chính xác hoặc đã hết hiệu lực pháp luật.

Nội dung Kháng nghị phải phản ánh được nội dung vụ án, phân tích làm rõ căn cứ kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; quyết định của bản án hoặc quyết định sơ thẩm không đúng pháp luật, không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. Mặt khác, phải phân tích làm rõ vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm, đối chiếu với các quy định cụ thể của điều luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

– Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp. Viện kiểm sát cấp huyện phải mở sổ theo dõi phát hiện vi phạm và lập phiếu kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm. Bảo đảm việc gửi phiếu kiểm sát và bản án, quyết định lên Viện kiểm sát cấp trên kịp thời, đúng quy chế. Trường hợp Viện kiểm sát cấp huyện phát hiện bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng nhưng đã hết thời hạn kháng nghị của cấp mình, thì chuyển ngay hồ sơ kiểm sát cùng phiếu kiểm sát đã ghi nội dung vi phạm kèm theo báo cáo để Viện kiểm sát tỉnh nghiên cứu, kháng nghị theo thẩm quyền.

Từ những nội dung trên, để thực hiện tốt Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018 đã xác định: “Năm 2018, toàn Ngành xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. VàChỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về “ Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính”.

Nhằm hạn chế các bản án, quyết định giải quyết án Hành chính, vụ việc KDTM; Lao động của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên xét xử quyết định hủy, sửa nghiêm trọng cần phải tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp và tăng cường công tác đào tạonhằm nâng cao năng lực công tác của mỗi cán bộ Kiểm sát viên được phân công thực hiện công tác kiểm sát lĩnh vực này, có như vậy mới đáp ứng yêu cầu công tác đề ra trong thời gian tới.

Các Bài Viết Cùng Thể Loại