Thông qua công tác kiểm sát các bản án, quyết định của cấp sơ thẩm, Phòng 10 ban hành kiến nghị trong việc Vi phạm trong viêc ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại

9 Tháng Năm, 2018 Trao Đổi Pháp Luật

Ngày 07/02/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án Kinh doanh thương mại giữa: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân Linh Mạnh ra xét xử. Tại phiên tòa Nguyên đơn rút toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn đề nghị rút đơn khởi kiện của Nguyên đơn. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 237 của Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nêu trên, tại Quyết định có ghi:

“…………………….

Số: 01/QĐST-DS

…………………………………

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Hưởng

                                          Bà Hà Thị Dung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố: Ông Hoàng Mạnh Thái – Kiểm sát viên”.

Xét thấy:

Đây là Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại do Hội đồng xét xử quyết định tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 235 BLTTDS năm 2015:

“Điều 235. Thủ tục ra bản án và quyết định của Tòa án tại phiên tòa

  1. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm ngừng phiên tòa phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản”.

Căn cứ vào quy định trên, tại phiên tòa xét thấy có căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, thì Hội đồng xét xử quyết định.

Tại Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định.

“Điều 63. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”.

(Như vậy theo quy định trên, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không có thư ký phiên tòa và không có đại diện VKS – Kiểm sát viên)

Căn cứ nội dung mẫu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Hội đồng xét xử ban hành, quy định tại Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) có ghi:

          “…………………

       Số……../QĐST-………. (2)

  ……………………………………………………

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông (Bà)………………………………..

Thẩm phán (nếu Hội đồng xét xử gồm có 5 người): Ông (Bà)……………

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông (Bà)…………………………………………………………………………

2.Ông (Bà)…………………………………………………………………………

3.Ông (Bà)…………………………………………………………………………

Căn cứ vào các điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự”;

…………………………………………………………………………………………………………

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 46-DS:

 (2) Ô thứ nhất ghi số, ô thứ hai ghi năm ra quyết định (ví dụ: số 02/2017/QĐST – KDTM)”.

Căn cứ khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định:

“Điều 3. Về cách ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án, quyết định dân sự

Ngoài việc ghi số và năm ban hành bản án, quyết định thì ký hiệu và trích yếu trong bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được ghi như sau:

  1. Đối với bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, thì việc ghi ký hiệu và trích yếu được thực hiện tương tự như việc ghi ký hiệu và trích yếu đối với bản án, quyết định giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về dân sự, nhưng thay ký hiệu “DS” bằng ký hiệu tranh chấp hoặc yêu cầu tương ứng: “HNGĐ”; “KDTM”; “LĐ”.

Ví dụ: Đối với bản án sơ thẩm giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại thì ghi: Số: 09/2013/KDTM-ST”.

Căn cứ vào quy định của các Điều luật; quy định vào Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017, số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, nêu trên thấy rằng:

Việc Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số: 01/2018/QĐST-DS ngày 07/02/2018 đối với vụ án thụ lý số 13/KDTMST ngày 20/4/2016 nêu trên, đã vi phạm vào quy định tại Điều 63; khoản 2 Điều 235, thiếu căn cứ quy định tại  khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, và không đúng quy định tại Mẫu số 46-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 / 01/ 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao) và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Vì vậy, để đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án theo Bộ luật tố tụng dân sự được thống nhất, đúng quy định của pháp luật. Phòng 10 đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện tỉnh ban hành kiến nghị yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có biện pháp chỉ đạo, kiểm điểm rút kinh nghiệm những vi phạm nêu trên, không để xảy ra vi phạm tương tự./.

                                                                        Lan Anh- Phòng 10

Các Bài Viết Cùng Thể Loại