Author Archives: admin

Phòng 7: THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

19 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

VIỆN KSND TỐI CAO

VIỆN KSND TỈNH THÁI NGUYÊN

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

           Số: 09/TB-VKS-P7

Thái Nguyên, ngày 05 tháng 12 năm 2019

 

 

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

Thông qua công tác xét xử phúc thẩm vụ án Mai Khánh Duy phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, theo điểm b, khoản 2, Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cấp phúc thẩm hủy án. Phòng THQCT và kiểm sát xét xử phúc thẩm (P7) Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, thông báo để Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã cùng rút kinh nghiệm, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và KSĐT, kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự.

  1. Nội dung vụ án

Theo bản cáo trạng và bản án sơ thẩm: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10 năm 2017 đến đầu tháng 5 năm 2018, Mai Khánh Duy đã 03 lần thực hiện hành vi dâm ô đối với cháu Trần Ngọc Huyền, sinh ngày 21/05/2008. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ, ngày cuối tháng 10 năm 2017, tại nhà ở của cháu Huyền, ở thôn Bảo Khấu, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Mai Khánh Duy đã dùng tay phải sờ vào âm hộ của cháu Huyền.

Lần thứ 2: Khoảng 13 giờ, ngày đầu tháng 01 năm 2018, tại nhà ở của Mai Khánh Duy, ở thôn Cốc Lùng, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Mai Khánh Duy đã dùng tay phải sờ vào âm hộ của cháu Huyền.

Lần thứ 3: Khoảng 13 giờ, ngày 03 hoặc ngày 04 tháng 05 năm 2018, tại nhà ở của Mai Khánh Duy, ở thôn Cốc Lùng, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Mai Khánh Duy đã dùng tay phải sờ vào âm hộ của cháu Huyền sau đó đưa cháu Huyền vào buồng, tụt quần cháu Huyền ra dùng dương vật đã cương cứng của mình cọ sát vào phía ngoài âm hộ của cháu Huyền và xuất tinh xuống sàn nhà.

Cả 03 lần thực hiện hành vi dâm ô, Duy khai đều không có mục đích giao cấu với cháu Huyền.

  1. Quá trình giải quyết vụ án

Từ nội dung vụ án nêu trên, căn cứ vào đơn yêu cầu khởi tố của chị Nguyễn Thị Dung (mẹ đẻ của cháu Huyền), cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyệnĐịnh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Khánh Duy về tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, quy định tạiđiểm b, khoản 2, Điều 146 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đã có cáo trạng truy tố bị can Mai Khánh Duy về tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 146 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bố bị cáo Mai Khánh Duy phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, xử phạt bị cáo 36 tháng tù.

Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm thấy: Với những diễn biến hành vi xâm hại tình dục đối với cháu Huyền mà bị cáo thực hiện ở lần thứ nhất (tháng 10/2017) tại nhà của bị hại và lần thứ hai (tháng 01/2018) tại nhà của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu của tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 146 BLHS năm 2015. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo điểm b, khoản 2, Điều 146 BLHS năm 2015 là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên ở lần thứ 3 (ngày 03 hoặc 04/5/2018) tại nhà của bị cáo, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa thấy hành vi của bị cáo Mai Khánh Duy có dấu hiệu của tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Cụ thể:

Trong các lời khai của bị cáo Mai Khánh Duy tại Cơ quan điều tra đã khai nhận: Lần cuối cùng (lần thứ ba) tại nhà của Duy, Duy dùng tay phải cầm dương vật đã cương cứng của mình cọ sát vào bộ phận sinh dục của cháu Huyền để đầu dương vật cọ sát lên trên, xuống dưới bên ngoài âm đạo của Huyền cứ như vậy khoảng 01 phút thì xuất tinh trúng vào âm đạo Huyền một ít, còn lại cho xuống nền nhà (BL 79, 80,86). Tại Bản tự khai và Biên bản ghi lời khai ngày 11/12/2018 (BL 95,77,78) bị cáo Mai Khánh Duy khai rõ: Bị cáo có ấn đầu dương vật vào trong âm đạo của cháu Huyền nhằm mục đích giao cấu cháu Huyền, do cháu Huyền kêu đau nên thôi, sau khoảng 01 phút thì Duy xuất tinh vào bên ngoài bộ phận sinh dục của cháu Huyền và hướng đầu dương vật xuất tinh xuống nền nhà…Tại phiên tòa bị cáo Duy khẳng định quá trình điều tra bị cáo có được làm bản tự khai và được Điều tra viên ghi lời khai, quá trình khai tại cơ quan điều tra bị cáo tự nguyện, thành khẩn, không bị ép cung, dùng nhục hình, tinh thần tỉnh táo, đủ năng lực hành vi để nhận biết khai báo. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai không được ấn đầu dương vào trong âm đạo của cháu Huyền mà chỉ cọ sát dương vật của mình vào bộ phận sinh dục của cháu Huyền.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/12/2018 (BL 61,62) và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, người bị hại là cháu Huyền đều khai rất rõ: “Chú Duy dùng tay cởi quần của cháu đến gối, chú Duy cởi quần của chú Duy ra và đưa điện thoại cho cháu nghịch, sau đó chú Duy lấy một tay cầm hai chân của cháu giơ lên cao làm cháu nằm ngả người xuống giường, sau đó chú Duy đưa dương vật của chú ấy vào bộ phận sinh dục của cháu đưa lên đưa xuống, có lúc thì ấn vào, khi chú Duy ấn vào thì cháu kêu đau nên chú Duy không ấn nữa, cứ như thế khoảng 1-2 phút sau thì cháu thấy chim của chú Duy bắn nước gì đó vào bướm của cháu, sau đó chú Duy lấy dẻ lau bướm cho cháu rồi mặc quần lại cho cháu và đưa cháu đi học”. Tại phiên tòa người bị hại vẫn giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra.

Tại biên bản ghi lời khai vào ngày 02/4/2019 (BL 69,70) người làm chứng là chị Nông Thị Thương trình bày rõ: “Khi tôi hỏi cháu Huyền về phần: Trẻ có biểu hiện bị làm dụng về thân thể… thì cháu có trả lời là có và cháu nói: Chú Duy cho chim vào bướm cháu, thấy cháu khó nói nên tôi đưa cho cháu mảnh giấy bảo cháu viết vào đấy, khi tôi về giở ra đọc thì cháu viết nội dung: Chú Duy cho chim vào bướm cháu ra nước gì ý…”

Những tài liệu trên được thu thập trong quá trình điều tra theo trình tự tố tụng quy định. Bị cáo, người bị hại, người làm chứng đều khai báo tự nguyện theo trình tự thủ tục tố tụng quy định, bản thân bị cáo không bị ép cung, nhục hình mà tự tay viết bản tự khai có sự chứng kiến của Điều tra viên, bị cáo được tự đọc lại, cam kết công nhận ghi đúng lời khai của mình và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình. Như vậy, đây là tài liệu, chứng cứ quan trọng có giá trị pháp lý cho thấy bị cáo không chỉ dừng lại ở hành vi dâm ô mà có dấu hiệu của hành vi giao cấu cần được xem xét đánh giá khách quan trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án.

Tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội theo bị cáo khai là ngày 03 hoặc ngày 04/5/2018, người bị hại sinh ngày 21/5/2008. Như vậy bị hại chưa tròn 10 tuổi. Tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 06/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều từ Điều 141 đến Điều 147 Bộ luật hình sựvề xét xử các vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi có quy định “Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâp nhập”.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 của Bộ luật hình sự) có quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đếm 15 năm:

…b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

..3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình:

…c) Phạm tội đối với ngưới dưới 10 tuổi.”

Trong quá trình điều tra và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đều thừa nhận có hành vi cọ sát bộ phận sinh dục của mình vào bộ phận sinh dục của cháu Huyền (trong một số lời khai bị cáo còn khẳng định có lúc ấn đầu dương vật vào trong âm đạo của cháu Huyền) nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục và thực tế là bị cáo đã xuất tinh bắn vào bên ngoài bộ phận sinh dục của cháu Huyền.

Căn cứ vào các dấu hiệu định tội tại Điều 142 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi xâm hại tình dục của bị cáo Duy ở lần thứ 3 được hiểu là hành vi giao cấu. Như vậy, ngoài hành vi dâm ô đối với cháu Huyền, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm mới xử lý bị cáo Mai Khánh Duy về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” nhưng chưa xem xét đến hành vi giao cấu đối với người dưới 16 tuổi của bị cáo Mai Khánh Duy là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Nghị quyết số 06/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/11/2019, cấp sơ thẩm xét xử vụ án khi chưa có Nghị quyết hướng dẫn, đây là những quy định mới được áp dụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Trong vụ án này cả bị cáo và bị hại đều không nhớ rõ thời điểm bị cáo thực hiện hành vi xâm hại tình dục cháu Huyền lần thứ 3 chính xác vào thời gian nào. Lúc thì bị cáo khai khoảng tháng 5/2017, lúc lại khai khoảng tháng 5/2018, khi lại khai 03 hoặc 04/05/2018. Bị hại thì khai là vào thời gian học năm lớp 4. Kết luận điều tra Cơ quan CSĐT ghi từ năm 2016 đến 2018. Việc xác đinh rõ thời điểm thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi cháu Huyền sinh ngày 21/05/2008, trong trường hợp này bị cáo có hành vi giao cấu với người dưới 10 tuổi thì mức hình phạt thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng, việc điều tra, truy tố, xét xử ở sơ thẩm sẽ thuộc thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh. Do đó cần phải điều tra chính xác thời điểm phạm tội lần thứ 3 của bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2019/HSNCTN-PT ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, áp Điều 345, điểm a, khoản 1, Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại.

  1. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Xét thấy quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm chưa làm rõ được hành vi trong lần thứ ba bị cáo thực hiện có dấu hiệu của tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Vì lời khai của bị cáo tại BL 95, 77, 78 là lời khai ban đầu phù hợp với lời khai của bị hại suốt từ quá trình điều tra cho đến khi xét xử sơ thẩm,phù hợp đối với lời khai của người làm chứng là chị Mông Thị Thương, nhưng các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xem xét, đánh giá khách quan đối với hành vi bị cáo đã thực hiện trong lần thứ ba. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án chứng minh bị cáo chỉ có hành vi dâm ô 03 lần đối với bị hại là chưa giải quyết triệt để những chứng cứ có dấu hiệu của hành vi “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” trong hồ sơ vụ án. Mặt khác,thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại trong lần thứ ba còn chưa xác định rõ thời gian thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần thiết phải điều tra, làm rõ chính xác thời điểm thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo để xem xét định khung hình phạt và thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây là vấn đề cần xem xét rút kinh nghiệm trong quá trình giải quyết đối với vụ án nêu trên.

Do có những tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án chứng minh bị cáo có dấu hiệu của hành vi “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và những diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không chứng minh được lý do thay đổi lời khai để chứng minh bản thân chỉ có hành vi dâm ô đối với cháu Huyền, tại phiên tòa bị hại vẫn khai giống như đã khai tại cấp sơ thẩm, xét thấy cần phải điều tra làm rõ hành vi của bị cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 354, điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a, khoản 1, Điều 358 BLTTHS, hủy bản án sơ thẩm số 28/2019/HSST ngày 16/08/2019 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyệnĐịnh Hóa, tỉnh Thái Nguyên đểgiải quyết theo thủ tục chung.

Phòng 7, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, thông báo đến các VKS c¸c huyện, thành phè, thịx· những nội dung nêu trên để rút kinh nghiệm chung đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất và chính xác pháp luật trong hoạt động xét xử./.

Nơi nhận:

Vụ 7 VKSNDTC;

– VKSCC;

-Lãnh đạo viện;

-Thanh tra VKS tỉnh;

-VKSND cấp huyện, TP, TX;

-VPTH;

– Lưu P7, VT.

 TL. VIỆN TRƯỞNG

TRƯỞNG PHÒNG

( Đã ký)

 

 

 

                         Đàm Thị Hoàn

 

Phòng 7 VKSND tỉnh Thái Nguyên: Xét xử rút kinh nghiệm và bảo vệ kháng nghị của VKS cấp huyện

19 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Ngày 12/02/2020, Phòng 7- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Tòa hình sự- Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm và bảo vệ kháng nghị đối với vụ án Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

Theo cáo trạng truy tố của cấp sơ thẩm: Ngày 26/12/2015 tại tổ dân phố 13, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, Nguyễn Thị Bích N biết rõ quyền sử dụng đất số 1083 tờ bản đồ 68 tại địa chỉ thị trấn Bắc Sơn (nay là phường Bắc Sơn, thị xã Phổ Yên) của mình đang được thế chấp vay tiền tại 02 ngân hàng. Mặc dù không đủ điều kiện làm chuyển nhượng nhưng vì muốn có tiền nên thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng cho anh Trần Văn P với giá 370.000.000đ, chiếm đoạt của anh P 297.000.000đ (gồm 232.465.050 đ anh P nộp thay cho N vào Ngân hàng để trả nợ vay và 65.000.000đ N nhận từ anh P bằng tiền mặt).

Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HSST ngày 30/09/2019, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng:  Điểm a, khoản 3, Điều 139, Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích N 07 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS buộc bị cáo phải trả lại cho anh Trần Văn P 232.465.050đ bị cáo đã chiếm đoạt.

Do bản án sơ thẩm xác định chưa đúng về phần bồi thường dân sự nên VKSND thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên sau khi trao đổi xin ý kiến VKSND tỉnh Thái Nguyên đã ra quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HSST ngày 30/09/2019 theo hướng kháng nghị một phần bản án, sửa bản án sơ thẩm xác định thiệt hại thực tế của hành vi phạm tội của bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tổng số tiền bị hại thanh toán tại ngân hàng Agribank chi nhánh Phúc Thuận và số tiền 65.000.000đ bị hại chuyển cho bị cáo ngay sau khi thực hiện các thủ tục đối với ngân hàng.

Vụ án trên là vụ án phức tạp, bị cáo kháng cáo kêu oan, bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng bồi thường và xem xét vấn đề đồng phạm, đồng thời VKS kháng nghị đề nghị sửa phần bồi thường trong vụ án nên KSV đã đề xuất Lãnh đạo chọn làm phiên tòa rút kinh nghiệm và giữ vai trò bảo vệ kháng nghị của VKSND thành phố Sông Công.

Tại phiên tòa phúc thẩm KSV đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử đồng thời đã chủ động tích cực tham gia thẩm vấn và tranh tụng tại phiên tòa, chủ động, xử lý tốt các tình huống phát sinh tại phiên toà, phối hợp cùng Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa và tranh luận với Luật sư của bị cáo và bị hại, KSV đã bảo vệ tốt được quan điểm đề nghị của mình và được Hội đồng xét xử chấp nhận các quan điểm cũng như chấp nhận kháng nghị của VKS.

Kết thúc phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử nhất trí với quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Chấp nhận kháng nghị của VKS. Áp dụng: Điểm b, khoản 1, Điều 355, điểm c, khoản 1 Điều 357 – BLTTHS năm 2015. Sửa bản án sơ thẩm về việc tăng bồi thường cho người bị hại. Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại về việc tăng bồi thường dân sự. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

                                                        Đinh Thị Thu Huyền – Phòng 7,Viện kiểm sát tỉnh

HỘI NGHỊ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH SÁP NHẬP ĐƠN VỊ CẤP PHÒNG THUỘC VKSND TỈNH THÁI NGUYÊN

19 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện Hướng dẫn số 37/HD-VKSTC ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy cấp phòng thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh vàQuyết định số 20/QĐ-VKSTC ngày 31/01/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc sáp nhập đơn vị cấp phòng thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Sáng ngày 12/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị công bố Quyết định sáp nhập đơn vị cấp phòng.

Tại Hội nghị đồng chí Trần Thị Ngọc Hoa, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ đã công bố Quyết định số 20/QĐ-VKSTC ngày 31/01/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc sáp nhập đơn vị cấp phòng thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên và các Quyết định điều động cán bộ. Theo đó VKSND tỉnh Thái Nguyên sáp nhập như sau:

– Phòng Thống kê tội phạm và Công nghệ thông với Văn phòng tổng hợp; tên đợn vị mới là: Văn phòng tổng hợp.

– Phòng Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp với Thanh tra; tên đơn vị mới là: Thanh tra – Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; gọi tắt là: Thanh Tra – Khiếu tố.

– Phòng Kiểm sát thi hành án dân sự với Phòng Kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự; tên đơn vị mới là: Phòng Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án; gọi tắt là: Phòng Kiểm sát giam, giữ và thi hành án; ký hiệu là: P8.

Như vậy, sau sáp nhập, VKSND tỉnh Thái Nguyên có 09 đơn vị cấp phòng.

205

Đồng chí Phùng Đức Tiến phát biểu chỉ đạo Hội ngị

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Phùng Đức Tiến, Bí thư Ban cán sự đảng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhấn mạnh việc sáp nhập phòng và sắp xếp, điều động cán bộ nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và Nghị quyết số 65-NQ/BCSĐ ngày 04/5/2018 của Ban cán sự đảng VKSND tối cao về kiện toàn, sắp xếp lại cơ cấu, tổ chức bộ máy làm việc cấp phòng thuộc VKSND cấp tỉnh, đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới. Mỗi cán bộ ở cương vị công tác mới cần tiếp tục phát huy những thành tích đạt được, không ngừng nỗ lực phấn đấu, rèn luyện về trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Viết bài: Phạm Thu Trâm

VÕ NHAI: KIỂM SÁT TRỰC TIẾP VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ TẠI 03 UBND CẤP XÃ

17 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện kế hoạch công tác kiểm sát thi hành án hình sự năm 2020 của Viện KSND huyện Võ Nhai, từ ngày 15/01/2020 đến ngày 16/01/2020, Đoàn kiểm sát của Viện KSND huyện Võ Nhai đã tiến hành kiểm sát trực tiếp về công tác thi hành án hình sự tại 03 đơn vị cấp xã, trên địa bàn, gồm: UBND xã Sảng Mộc, Nghinh Tường và UBND xã Vũ Chấn.

204

Đoàn kiểm sát trực tiếp tiến hành kiểm sát

Quá trình kiểm sát hồ sơ tài liệu và qua theo dõi thấy các đơn vị UBND xã đã quản lý tốt các đối tượng theo hồ sơ của Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Võ Nhai bàn giao, cụ thể: Công an các xã đã tham mưu cho UBND thực hiện tốt các biện pháp nhằm tạo điều kiện, giúp đỡ cho các bị án thực hiện tốt quá trình thi hành án của mình, hồ sơ được lập đúng theo quy trình, thủ tục, riêng biệt cho từng đối tượng bị án; thực hiện việc giám sát quản lý đối với các trường hợp hoãn thi hành án phạt tù đảm bảo đúng quy định; đối với các hồ sơ bị án đã chấp hành xong thời gian thử thách kịp thời chuyển đến cơ quan THAHS công an huyện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận theo luật định, …

Đồng thời, Đoàn kiểm sát đã tiến hành xác minh trực tiếp một số trường hợp đang chấp hành án tại địa phương, hướng dẫn cho UBND các xã cần theo dõi, giám sát, giáo dục các bị án tốt hơn, thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về giám sát, giáo dục đối với các bị án sâu sát hơn nhằm nâng cao công tác quản lý, qua đó cũng góp phần giúp cho các bị án nhận thức rõ nghĩa vụ của mình phải thực hiện, tránh trường hợp bị án coi thường pháp luật tái phạm vi phạm pháp luật.

Cùng với việc kiểm sát trực tiếp trong năm 2020, Đoàn kiểm sát cũng đồng thời tiến hành kiểm tra việc thực hiện kiến nghị mà Viện kiểm sát đã ban hành trong năm 2019. Qua đó thấy các đơn vị cấp xã được kiểm sát đã thực hiện tốt công tác thi hành án hình sự theo quy định pháp luật, không để xảy ra những vi phạm như Viện kiểm sát đã kiến nghị. Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai đã ban hành 03 kết luận đối với 03 UBND cấp xã đã tiến hành kiểm sát yêu cầu UBND các xã phát huy những ưu điểm đã đạt được để công tác thi hành án hình sự thực sự đi vào nề nếp nhất là khi Luật thi hành án hinh sự năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020, bảo đảm cho pháp luật thi hành án hình sự được tuân thủ.

 

ĐẶNG VĂN HOÀNG – VKSND HUYỆN VÕ NHAI

 

 

 

 

 

 

 

HUYỆN VÕ NHAI: TỔ CHỨC HỘI NGHỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC KIỂM SÁT NĂM 2020

17 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Chiều ngày 14/01/2020, VKSND huyện Võ Nhai tổ chức Hội nghị triển khai công tác năm 2020. Dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Hoàng Văn Tiến – Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên, Lãnh đạo, cán bộ Văn phòng tổng hợp, Phòng 1, Phòng 7, Phòng Tổ chức cán bộ cùng toàn thể Lãnh đạo, cán bộ, công chức, người lao động VKSND huyện Võ Nhai.

203

 Đ/c Hoàng Văn Tiến – Phó Viện trưởng tỉnh phát biểu chỉ đạo

Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác năm 2019, do đồng chí Vũ Thành Trung, Phó Viện trưởng VKSND Võ Nhai trình bày nêu rõ: Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị công tác năm của Viện trưởng VKSND tối cao, Kế hoạch công tác của Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên, đơn vị đã chủ động xây dựng Kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm công tác và triển khai, quán triệt đến cán bộ, công chức, người lao động đơn vị từ đầu năm; trong năm VKSND huyện đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động xét xử. Công tác kiểm sát thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được tăng cường; chủ động phối hợp công tác với UBMTTQVN huyện và các cơ quan tiến hành tố tụng… nhằm nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới được giao. Công tác xây dựng ngành cũng có nhiều chuyển biến tích cực, bố trí sắp xếp vị trí công tác được tiến hành chặt chẽ, đảm bảo chất lượng, phù hợp với năng lực cán bộ và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đã kịp thời quán triệt, triển khai các luật, nghị quyết mới về tư pháp.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, năm 2019 đơn vị còn có một số khó khăn, hạn chế, vướng mắc cần khắc phục như: chưa có kháng nghị hình sự phúc thẩm.

Trong năm 2020, VKSND huyện Võ Nhai tiếp tục thực hiện nghiêm túc theo Chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC, Kế hoạch của Viện trưởng VKSND Thái Nguyên về công tác kiểm sát năm 2020; phấn đấu hoàn thành và vượt chỉ tiêu nghiêp vụ theo các Nghị quyết của Quốc hội về công tác tư pháp và Quyết định số 379/QĐ-VKSTC của Viện trưởng VKSNDTC về hệ thống các chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Tiến – Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên biểu dương những thành tích mà VKSND huyện Võ Nhai đã đạt được trong năm 2019. Đồng chí Phó Viện trưởng cũng đề nghị, năm 2020, VKSND huyện Võ Nhai cần phát huy những thành tích đạt được, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, phát huy vai trò người đứng đầu đơn vị; làm tốt vai trò tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong công tác cải cách tư pháp; cần quan tâm hơn tới công tác tự học, tự rèn, tự đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ đối với Kiểm sát viên; chú trọng chống oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm.

Cùng với đó thay mặt BCS Viện KSND tỉnh, đồng chí Phó Viện trưởng VKSND tỉnh đã trao Giấy chứng nhận Chiến sỹ thi đua Ngành cho đồng chí Vũ Thị Năm – Kiểm sát viên, Kỷ niệm chương vì sự nghiệp bảo vệ pháp chế cho 02 đồng chí Phó Viện trưởng là đồng chí Hoàng Văn Thùy và đồng chí Vũ Thành Trung.

Đồng chí Nguyễn Lưu Tuân – Viện trưởng VKSND huyện Võ Nhai thay mặt đơn vị đã nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo VKSND tỉnh và cùng tập thể VKSND huyện Võ Nhai phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác kiểm sát trong năm công tác 2020 cũng như hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp ủy, chính quyền địa phương giao phó, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của ngành KSND trên địa bàn huyện Võ Nhai.

ĐẶNG HOÀNG – VKSND HUYỆN VÕ NHAI

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỔ CHỨC THÀNH CÔNG HỘI NGHỊ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2020

17 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công và hướng dẫn của Liên đoàn Lao động huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, ngày 13/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đã tổ chức thành công Hội nghị cán bộ, công chức năm 2020.

Tại hội nghị, toàn thể cán bộ, công chức và người lao động của đơn vị đã được nghe Báo cáo Kiểm điểm công tác phối hợp giữa chính quyền và Ban chấp hành công đoàn trong thực hiện kế hoạch công tác năm 2019; Dự thảo Quy chế phối hợp hoạt động giữa Viện trưởng và Ban chấp hành Công đoàn; Báo cáo hoạt động thanh tra nhân dân năm 2019 và Báo cáo tổng kết phong trào thi đua năm 2019 và phát động phong trào thi đua năm 2020.

201

Đ/c Trần Vũ Sơn – Viện trưởng VKSND huyện Định Hóa khai mạc và chỉ đạo Hội nghị

Trong năm 2019, tập thể cán bộ, công chức và người lao động Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đã cùng nhau đoàn kết, nỗ lực hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch công tác đã đề ra, không có cán bộ, Kiểm sát viên vi phạm bị xử lý kỷ luật và được công nhận là Tập thể lao động Tiên tiến.

202

Đ/c Đinh Khánh Luyện – Phó viện trưởng, Chủ tịch Công đoàn VKSND huyện Định Hóa trình bày Báo cáo tổng kết phong trào thi đua năm 2019 và phát động phong trào thi đua năm 2020

Với kết quả đã đạt được trong năm 2019, cán bộ, công chức của đơn vị đã thảo luận, đóng góp ý kiến, đề ra nhiều biện pháp để thực hiện tốt các kế hoạch công tác năm 2020 đã đề ra, đồng thời tiến hành bầu 03 đồng chí vào Ban thanh tra nhân dân theo quy định, kết quả đồng ý đạt 100%.

Trên tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị cán bộ, công chức năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa thành công tốt đẹp, thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác năm 2020./.

Ảnh và bài: Phương Hoa

NHỮNG VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH TRONG NHÓM TỘI PHẠM VỀ MA TÚY THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS NĂM 2015.

17 Tháng Hai, 2020 Trao Đổi Pháp Luật

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Ở BLHS năm 2015 nhóm tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XX bao gồm 13 Điều luật, từ Điều 247 đến Điều 259 và đã tách riêng cấu thành của từng tội phạm cụ thể so với BLHS năm 1999. Từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành đến nay, Chính phủ đã ban hành 02 Nghị định hướng dẫn về nhóm tội phạm ma túy đó là: Nghị định số 19/2018/NĐ- CP ngày 02/2/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS năm 2015 (Nghị định số 19); Nghị định số 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ, Quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất (Nghị định số 73), tuy nhiên hiện chưa có một văn bản dưới luật nào của đơn ngành, hoặc liên ngành tố tụng Trung ương hướng dẫn áp dụng một số quy định của nhóm tội phạm về ma túy được quy định trong BLHS năm 2015.

Trên thực tiễn hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) vẫn đang vận dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an- Viện kiểm sát ND Tối cao- Tòa án ND Tối cao- Bộ Tư pháp “Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII- Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 (Thông tư 17). Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015, về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của TTLT số 17- hiện chưa có văn bản nào thay thế, để khởi tố điều tra, truy tố và xét xử đối với một số tội trong nhóm các tội phạm về ma túy quy định tại BLHS năm 2015, tuy nhiên, về nguyên tắc thì kể từ ngày 01/01/2018- ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành thì không được viện dẫn các Thông tư nêu trên, chính vì vậy qua hai năm thi hành BLHS năm 2015 đã nảy sinh những vướng mắc, cần thiết phải được thống nhất nhận thức trong việc áp dụng luật, cụ thể là trường hợp bị can phạm tội có từ hai chất ma túy trở lên, tình tiết “Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm…đến điểm…khoản này” được quy định tại 05 Điều luật của BLHS năm 2015 đó là: điểm k khoản 2, điểm e khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 248 (Tội Sản xuất trái phép chất ma túy), điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), điểm i khoản 1, điểm o khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), điểm p khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy),  điểm i khoản 2, điểm n khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy), hiện có nhiều quan điểm và nhận thức khác nhau trong việc trích dẫn các điểm truy tố trong phần Kết luận và phần Quyết định của bản Cáo trạng. Ở một số đơn vị tại phần Kết luận trích dẫn đầy đủ các điểm, khoản, quy định khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy của Điều luật tương ứng, nhưng tại phần Quyết định chỉ áp dụng 01 điểm là “Có hai chất ma túy trở lên…”, nhưng có đơn vị tại phần Kết luận và Quyết định của Cáo trạng chỉ trích dẫn và áp dụng 01 điểm, khoản của Điều luật là “Có hai chất ma túy trở lên…” mà không trích dẫn chi tiết các điểm có quy định khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy, ví dụ như các vụ án sau đây:

Vụ thứ nhất: Ngày 21/6/2019 CQĐT Công an TP SC tỉnh TN bắt quả tang Ng. V. D có hành vi tàng trữ trái phép 0,148 gam ma túy loại Heroine và 0,42 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. CQĐT đã khởi tố vụ án, bị can, kết thúc điều tra vụ án, đề nghị truy tố đối với D về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS (có hai chất ma túy trở lên….).

Ngày 08/8/2019 Viện kiểm sát ND TP SC tỉnh TN đã ban hành bản Cáo trạng số 49/CT- VKS, truy tố đối với bị can Ng. V. D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS, tại phần Kết luận của Cáo trạng ghi: “Hành vi nêu trên của Ng.V.D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, i khoản 1 Điều 249 BLHS. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  1. c) Heroin, Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
  2. i) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” tuy nhiên, tại phần Quyết định của bản Cáo trạng ghi truy tố đối với Ng. V. D chỉ áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bản án số 49/2019/HSST ngày 30/8/2019 của Tòa án ND TP SC tỉnh TN xét xử đối với bị cáo Ng. V. D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 24 tháng tù.

Vụ thứ hai: Ngày 06/9/2019, tổ công tác Công an TPTN, tỉnh TN bắt quả tang Phạm Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,941 gam ma túy loại Methamphetamine, 8,381 gam MDMA, 7,76 gam Ketamine mục đích để bán kiếm lời, ngày 14/9/2019 CQĐT đã khởi tố vụ án, bị can đối với Đ về tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 02/12/2019 đã KTĐT vụ án chuyển hồ sơ đến VKSND TP TN đề nghị truy tố đối với bị can Phạm Văn Đ về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 BLHS.

Bản Cáo trạng số 06/CT- VKSTPTN ngày 19/12/2019 của VKSND TP TN tại phần Kết luận khi trích dẫn điều luật ghi: Hành vi của Phạm văn Đ đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 BLHS. Nội dung Điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
  2. b) Phạm tội 02 lần trở lên.
  3. p) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”. Tại phần Quyết định của bản Cáo trạng truy tố đối với Phạm Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251 BLHS.(không trích dẫn điểm i khoản 2 Điều 251)

Như vậy, qua hai bản Cáo trạng của hai đơn vị trên thấy rằng, cùng với một tình tiết như nhau là người phạm tội có hành vi tàng trữ hoặc mua bán hai chất ma túy trở lên nhưng ở hai đơn vị lại trích dẫn khác nhau, ở vụ án thứ nhất đơn vị VKSTP SC tại phần Kết luận của bản Cáo trạng đã trích dẫn cả điểm c khoản 1 Điều 249 quy định về khối lượng của từng chất ma túy, ở vụ thứ 2 đơn vị VKSTP TN tại phần Kết luận không trích dẫn điểm i, khoản 2 Điều 251 (quy định về khối lượng ma túy loại MDMA và Methamphetamine) như đơn vị VKSTP SC. Tuy nhiên đến nay cả hai vụ án trên đã được Tòa án xét xử sơ thẩm xong, không có kháng cáo hay kháng nghị gì.

Như vậy, vấn đề không thống nhất ở đây là, trong trường hợp bị can phạm tội có hai chất ma túy trở lên, được quy định ở cùng một điểm, hoặc ở các điểm khác nhau trong cùng một khoản của điều luật, thì ở phần Kết luận của bản Cáo trạng có cần phải trích đầy đủ các điểm quy định về khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy đó hay không ? hay chỉ cần trích 01 điểm quy định “có hai chất ma túy trở lên…” ? Về vấn đề này quan điểm chúng tôi như sau:

Thứ nhất: Việc xác định điểm, khoản truy tố trong trường hợp có từ hai chất ma túy trở lên đã được hướng dẫn chi tiết tại Điều 4, Điều 5, mục I, II phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 19 ngày 02/2/2018, theo đó trong trường hợp có nhiều chất ma túy (hai chất trở lên) được quy định tại cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 250, 251, 252 của BLHS được thực hiện theo các bước sau:

Bước thứ nhất: Cộng tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy lại với nhau để xác định tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy;

Bước hai: Đối chiếu tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy với các điểm, khoản của Điều luật tương ứng để xác định điểm, khoản truy tố;

Bước ba: Xác định điểm, khoản, điều luật áp dụng: Trong trường hợp này xác định truy tố bị can theo điểm quy định “Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm…đến điểm…khoản này” của Điều luật tương ứng.

Đối với trường hợp các chất ma túy không được quy định ở cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 250, 251, 252 của BLHS (Điều 5 Nghị định 19) thì cách tính phức tạp hơn, tuy nhiên vẫn xác định cộng tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy để xác định khoản truy tố đối với bị can và áp dụng điểm quy định “Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm…đến điểm…khoản này” của Điều luật tương ứng, như vậy trong mọi trường hợp, nếu bị can có hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển…từ hai chất ma túy trở lên thì điểm truy tố đối với bị can chỉ là một tình tiết “Có hai chất ma túy trở lên ….” của Điều luật tương ứng.

Thứ hai: Đối với các chất ma túy được quy định tại cùng một điểm, hoặc khác điểm cùng một khoản của Điều luật, thì tất cả các nội dung về khối lượng, loại chất ma túy…đã được xác định rõ qua biên bản cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định đã được nêu trong phần nội dung, do đó trong phần Kết luận của bản Cáo trạng không cần phải trích dẫn đầy đủ các điểm đó (ví dụ: Heroin; Cocaine; MDMA; các chất ma túy khác ở thể rắn…) mà chỉ cần trích một điểm là “Có hai chất ma túy trở lên….” của Điều luật tương ứng, như vậy sẽ phù hợp với phần Quyết định của bản Cáo trạng đó là chỉ áp dụng 01 điểm “Có hai chất ma túy trở lên….” để truy tố đối với bị can.

Mặt khác theo mẫu bản Cáo trạng số 144 (ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ- VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao) phần Kết luận đã quy định: “Khẳng định bị can phạm tội gì, theo quy định tại điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự- lưu ý trích dẫn điều luật…. Tại phần Quyết định của bản Cáo trạng phải nêu rõ…tội danh, đến điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự…” vì vậy nếu khi đã trích dẫn các điểm ở phần Kết luận của Cáo trạng thì bắt buộc phải trích dẫn đầy đủ ở phần Quyết định, chứ không thể có trường hợp đã trích điểm, khoản của Điều luật ở phần Kết luận mà phần Quyết định lại không trích dẫn như ở vụ án thứ nhất nêu trên, và ngược lại.

Đối với trường hợp bị can chỉ mua bán, vận chuyển, tàng trữ 01 loại ma túy được quy định ở một điểm cùng với các loại ma túy khác (Heroin, hoặc Methamphetamine, hoặc MDMA…) thì ở phần Kết luận cũng như phần Quyết định của bản Cáo trạng chỉ cần trích riêng chất ma túy đó mà không cần trích đủ tất cả các chất ma túy quy định trong cùng điểm đó theo đúng mẫu Cáo trạng của Viện kiểm sát Tối cao đã ban hành.

Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết nên dẫn đến còn có những vướng mắc và không thống nhất như trên. Rất mong các Cơ quan liên ngành tố tụng cấp trên cần kịp thời hướng dẫn để địa phương thống nhất thực hiện, tránh tình trạng các địa phương không thống nhất như hiện nay./.

                                                                                  Dương Văn Thịnh

                                                           (Phòng 1- VKSND tỉnh Thái Nguyên)

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình chủ động, tích cựctrong công tác phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi-rút Cô-rô-na gây ra (dịch Covid-19)

17 Tháng Hai, 2020 Tin Hoạt Động Ngành Kiểm Sát

Thực hiện nghiêm túc Thông báo số 41/TB-VKSTC ngày 31/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Công văn số 37/VKS-VP ngày 05/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Công văn số 66 ngày 5/2/2020 của Ban Dân vận Huyện ủy Phú Bình và sự chỉ đạo kịp thời của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên về công tác phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi-rút Cô-rô-na gây ra. Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã chủ động, tích cực trong công tác phòng, chống dịch với nhiều giải pháp đồng bộ, kịp thời. Với tinh thần không chủ quan, bị động, song cũng không hoang mang lo lắng quá mức, luôn nắm chắc và bám sát với diễn biến dịch bệnh thực tế tại địa phương… Ngày 06/02/2020, đơn vị tổ chức mua và cấp khẩu trang y tế cho các cán bộ, công chức và người lao động trong đơn vị; thực hiện thường trực tiếp công dân, tiếp đón và hướng dẫn đeo khẩu trang y tế cho khách đến liên hệ công tác tại đơn vị; tăng cường hoạt động kiểm sát Nhà tạm giữ về công tác phòng chống dịch; giảm thiểu các tiếp xúc trực tiếp, hội họp, tăng cường các biện pháp chỉ đạo, trao đổi kịp thời thông qua thư điện tử của ngành…

200

Phát khẩu trang cho cán bộ trong đơn vị

Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã chủ động liên hệ với Trung tâm Y tế huyện Phú Bình mua thuốc khử trùng, phun phòng dịch bệnh toàn bộ khuôn viên Cơ quan… Lãnh đạo Viện đã yêu cầu các cán bộ thực hiện việc dọn dẹp, giữ vệ sinh sạch sẽ trong phòng làm việc và toàn bộ khuôn viên của đơn vị.

Với tin thần chỉ đạo khẩn trương, quyết liệt “Chống dịch như chống giặc” kiên quyết không để bị động trong công tác phòng chống dịch vì sức khỏe của toàn thể cán bộ trong đơn vị, vì sự hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ công tác của Ngành và cấp Ủy địa phương giao./.

Vi Hoa- Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình

RÚT KINH NGHIỆM Rút kinh nghiệm đối với bản án có vi phạm tố tụng hành chính, Bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy.

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân: Năm 1952 bố mẹ ông Cường khai phá được hơn 8.000m2 đất đồi để trồng màu. Năm 1990 gia đình ông Cường đã trồng cây theo dự án PAM để lấy gạo ăn. Năm 1997 ông Lương Văn Cường đã có tên trong sổ giã ngoại tại tờ bản đồ số 66B, diện tích 8.985m2 loại đất rừng, gia đình ông Cường vẫn quản lý và sử dụng đến nay.

Năm 1999 Nhà nước có chủ chương cấp GCNQSD đất do ông Cường không có nhà, UBND xã đã báo con trai là Lương Văn Hà ký thay bố, mẹ để được cấp GCNQSD đất. Ngày 20/12/1999 ông Hà nhận được Quyết định giao đất nông nghiêp số 8195/QĐ-UBND của UBND huyện Đồng Hỷ (nay thuộc thành phố Thái Nguyên) cấp thửa 61a, tờ bản đồ số 7 là 0.28ha và thửa 337a, tờ bản đồ số 8 là 0,32ha. Tổng diện tích đất được cấp 2.800m2 mang tên ông Lương Văn Hà (thiếu so với thực tế trong sổ giã ngoại là 6.185m2), gia đình ông Cường đã nhiều lần làm đơn đề nghị của UBND xã Linh Sơn làm thủ tục cấp GCN.QSDĐ phần đất còn thiếu nhưng UBND không làm thủ tục cấp cho gia đình.

Ngày 16/11/2016, UBND xã Linh Sơn ban hành thông báo số 39/TB-UBND V/v “Trả lời việc cấp GCN.QSDĐ thiếu của gia đình ông Lương văn Cường và bà Đặng Thị Luân” lý do gia đình ông Cường, bà Luân đang tranh chấp với xóm Làng Phan và Phường hiếu xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, nên không đủ điều kiện.

Không đồng ý với văn bản của UBND xã Linh Sơn, ông Cường, bà Luân đã có đơn khởi kiện vụ án hành chính gửi đến Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, đề nghị Tòa án xét xử hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ (nay là thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân. Hủy Quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016.
  2. Kiến nghị UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên xem xét hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân đối với diện tích kê khai còn thiếu tại thử đất số 61, tờ bản đồ số 7, thuộc bản đồ địa chính xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên để đảm bảo quyền lợi của người Sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

Không đồng ý với Quyết định của bản án số 03/2019/HCST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, người bị kiện có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa đã đề nghị: Do quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Kết quả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã chấp nhận, tuyên xử theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Những nội dung cấn rút kinh nghiệm: 

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm sau:

1.Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng:

1.1.Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện tham gia tố tụng không đúng quy định của pháp luật.

Việc xác định ai là người bị kiện thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan tổ chức thì phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

Trong vụ án này, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên là Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016. Theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.

Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện trong vụ án là: Chủ tịch UBND xã Linh Sơn là không đúng quy định tại khoản 9 Điều 3 của luật tố tụng hành chính, quy định:

9. Người bị kiện là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

1.2. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định và không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Kết quả xác định hiện trạng sử dụng đất của UBND xã và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện trên diện tích, thửa đất hộ gia đình công Cường, bà Luân xin cấp GCNQSD đất có khoảng 37 ngôi mộ chôn người chết (theo tài liệu của UBND xã), có hơn 20 ngôi mộ chôn người chết (Theo tài liệu thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm), của nhân dân xóm Làng Phan chôn rải rác. Khi hộ ông Cường, bà Luân có đơn xin cấp quyền sử dụng đất, ông Lương Văn Tứ (Trưởng xóm) đại diện cho công đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng vị trí thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất là đất Nghĩa trang của nhân dân xóm Làng Phan, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền làm thủ tục giao thửa đất cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan để làm nghĩa trang chôn người chết sau khi qua đời.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những hộ gia đình có các ngôi mộ trên thửa đất hộ ông Cường, bà Luân xin cấp quyền sử dụng đất và cộng đồng dân cư xóm Làng Phan vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Khoản 10 Điều 3 LTTHC quy định:

10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Vi phạm về hoạt động tố tụng và việc xác minh, thu thập chứng cứ.

– Sau khi nhận được hồ sơ vụ án theo quyết định chuyển vụ án của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án số 05/2017/TLST-HC, tuy nhiên tại các văn bản tố tụng sau này và Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Bản án đều xác định là vụ án thụ lý số 06/TLST-HC là không chính xác;

– Ngày 18/12/2017 Tòa án ND thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án; đến ngày 11/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có quyết định phân công kiểm sát viên tham gia phiên tòa là không tuân thủ theo khoản 1 Điều 24 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016, quy định:

“Điều 24. Thông báo Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp

  1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 126 và khoản 1 Điều 217 Luật TTHC,Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa”.

– Ngày 25/3/2019 HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ, tuy nhiên Tòa án chưa tiến hành xác minh thu thập được các tài liệu chứng cứ để khắc phục được lý do tạm ngừng phiên tòa, nhưng lại mở lại phiên tòa và xét xử vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 187 của Luật tố tụng hành chính.

– Nhiều tài liệu có trong hồ sơ vụ án là bản phô tô không được công chứng, chứng thực theo quy định, nhưng Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung hoặc đối chiếu tính xác thực của tài liệu phô tô để sử dụng làm chứng cứ trong vụ án. Khi thu thập chứng cứ Tòa án không lập biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ theo quy định tại Điều 83 của Luật tố tụng hành chính nên không xác định được tài liệu của ai, do ai cung cấp. Sau khi thu thập tài liệu chứng cứ Tòa án không thông báo cho các đương sự về việc thu thập tài liệu chứng cứ để các đương sự thực hiện quyền nghĩa vụ của mình; không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ là vi phạm Điều 4, Điều 98, Điều 138 của Luật tố tụng hành chính.

– Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh, thu thập lời khai của những người là cộng đồng dân cư xóm Làng Phan, của anh Lương Văn Hà  nhưng không  xác định tư cách tố tụng hoặc đưa họ vào tham gia tố tụng của vụ án.

– Khi ông Cường, bà Luân kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 61-TBĐ số 7, ông cho rằng đó là đất của gia đình mình sử dụng vào việc trồng rừng từ những năm 1990, nhưng trên thực tế trên phần diện tích đất này còn có nhiều ngôi mộ và đã được cộng đồng dân cứ xóm Làng Phan sử dụng vào việc chôn cất người chết sau khi qua đời từ năm 1990, ông Lương Văn Tứ đại diện cho cộng đồng dân cư xóm Làng Phan có đơn đề nghị cho rằng đó là đất nghĩa trang xóm Làng Phan, nhưng Tòa án không tiến hành xác minh, thu thập các thông tin về thửa đất, số lượng cụ thể là bao nhiêu ngôi mộ, cụ thể thân nhân chủ của các ngôi mộ; các tài liệu, chứng cứ và quy định của UBND tỉnh Thái Nguyên trong việc ban hành quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang theo Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/6/2016 của Chính phủ là có nhiều thiếu sót trong việc điều tra, thu thập chứng cứ. Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, không có cơ sở để đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện trong vụ án.

  1. Về việc nhận định, đánh giá và áp dụng pháp của bản án sơ thẩm không phù hợp khách quan:

Tòa án cấp sơ thẩm viện dẫn lý do: “ Tại Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016 của UBND xã Linh Sơn đã xác định rõ việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Cường, bà Luân vì lý do đất đang có tranh chấp với hội phường hiếu xóm Làng Phan” , là không chính xác, không phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Tòa án không xem xét, đánh giá cộng đồng dân cư xóm Làng phan và phường họ Hiếu xóm Làng Phan có phải là chủ thể có quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5 Luật đất đai năm 2013 hay không?;  Có phải là chủ thể tranh chấp đất đai với gia đình ông Cường hay không mà kết luận: “UBND xã Linh Sơn xác định tranh chấp giữa hộ gia đình ông Cường, bà Luân với phường hiếu xóm Làng Phan là căn cứ duy nhất để ban hành thông báo số 39/TB-UBND” là không khách quan, toàn diện.

Đáng lẽ ra, khi xem xét nội dung này ngoài việc phân tích, áp dụng quy định tại Điều 74, Điều 75 của Bộ luật dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét đánh giá và áp dụng khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm 2013 để xác định chủ thể có quyền được sử dụng đất, đồng thời phân tích đánh giá xem có việc tranh chấp hay không?. Ai là người tranh chấp với ông Cường, bà Luân khi kê khai xin cấp giấy chứng nhận thì mới đảm bảo cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan toàn diện.

– Sau khi Tòa án ND huyện Đồng Hỷ thụ lý vụ án tại thông báo thụ lý số 02/TLST-HC ngày 27/02/2017, UBND xã Linh Sơn có văn bản số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 về việc: “Thông báo trả lời đơn xin cấp GCNQSD đất thiếu của gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân..”. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy Thông báo số 39/TB-UBND ngày 16/11/2016, nhưng không xem xét và giải quyết đối với Thông báo số 26/TB-UBND ngày 15/9/2017 của UBND xã Linh Sơn, là chưa giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, vi phạm điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Việc áp dụng pháp luật nội dung: Tòa án không đánh giá phân tích tài liệu, chứng cứ và áp dụng pháp luật nội dung là Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà chỉ áp dụng Bộ luật dân sự loại trừ chủ thể sử dụng đất là thiếu sót.

– Trường hợp HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy quyết định hành chính bị khởi kiện thì buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; Đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy. Nhưng bản án lại kiến nghị UBND xã Linh Sơn xem xét, hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lương Văn Cường và bà Đặng Thị Luân là vi phạm khoản 1 Điều 6, khoản 3 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính.

– Khi giải quyết về phần án phí Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội là không phù hợp.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu thập tài liệu chứng cứ còn thiếu sót, thiếu các tài liệu chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được, nên tại bản án số 01/2019/HC-PT ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử lại theo thủ tục chung.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nêu lên để rút kinh nghiệm chung.

                                                                                       Phòng 10

Rút kinh nghiệm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính bị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa do áp dụng pháp luật không đúng

13 Tháng Hai, 2020 Thông Tin Tuyên Truyền

 

Thông qua công tác xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý số 04/2019/TLST-HC ngày 03/12/2019 đối với  quyết định đình chỉ vụ án hành chính số 02/2019/QĐST-HC ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên có quan điểm như sau:

          – Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định người bị kiện không đúng pháp luật.

          – Áp dụng chế định về án phí không đúng quy định.

Áp dụng điểm b khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần quyết định sơ thẩm theo hướng: Xác định lại người bị kiện, và áp dụng lại chế định về án phí. Hội đồng xét xử đã quyết định theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 NHỮNG NỘI DUNG CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai người bị kiện.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Ngày 23/8/2017 ông Đỗ Mạnh Hiếu có đơn tố cáo gửi tới Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên với nội dung: Việc gia đình ông Châu ở số nhà 449/1, đường Cách Mạng Tháng Tám và một số người khác lấn chiếm đất cống rãnh thoát nước, dẫn đến việc nước không thoát được đã ngấm vào nhà ông Hiếu gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông Hiếu.

Căn cứ nội dung đơn tố cáo của ông Hiếu, UBND phường Hương Sơn tiến hành tổ chức xác minh, giải quyết đơn tố cáo theo quy định.

Kết quả Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đã ban hành: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017.

Không đồng ý với nội dung bản kết luận số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, ông Hiếu có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu:

– Hủy toàn bộ kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp nhận ngày 18/12/2018.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, TAND thành phố Thái Nguyên có Thông báo số 06/2018 ngày 28/12/2018 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 21/01/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện: là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

TAND thành phố Thái Nguyên tiếp tục có Thông báo số 16/2019 ngày 24/01/2019 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ngày 12/02/2019 ông Hiếu có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

Đơn khởi kiện của ông Hiếu nội dung vẫn thể hiện: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung khác vẫn giữ nguyên.

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật, xác định người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả giải quyết vụ án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Theo nội dung trên:

Quyết định hành chính bị kiện trong vụ án là: Kết luận nội dung đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Văn bản do Chủ tịch UBND phường Hương sơn, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên ban hành trên cơ sở kết quả giải quyết đơn tố cáo của công dân Đỗ Mạnh Hiếu, tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc địa bàn UBND phường Hương Sơn quản lý, người có thẩm quyền giải quyết, được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011; và Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Khoản 1 Điều 31 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

          Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

Điều 38. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

  1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
  5. d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.

Căn cứ quy định trên, Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của ông Đỗ Mạnh Hiếu và ban hành kết luận nội dung giải quyết đơn tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định:

9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Người bị kiện là UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là không đúng quy định nêu trên.

Cụ thể trong vụ án này, xác định người bị kiện là Chủ tịch UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người khời kiện yêu cầu Tòa án:

– Hủy văn bản kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

– Xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Xét các yêu cầu của người khởi kiện nhận thấy:

+ Đối với yêu cầu Hủy kết luận nội dung tố cáo số 03/KL-UBND ngày 29/12/2017, của Chủ tịch UBND phường Hường sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án thể hiện, người khởi kiện ông Đỗ Mạnh Hiếu không đồng ý với nội dung kết luận giải quyết đơn tố cáo của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:

“Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp

“1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo”.

Căn cứ quy định trên, việc ông Hiếu không đồng ý với kết quả giải quyết  của Chủ tịch UBND phường Hương Sơn đối với nội dung đơn tố cáo công dân khác có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của ông, ông có quyền tố cáo tiếp tới Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên giải quyết, theo quy định trên.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.

+Đối với yêu cầu đề nghị: Tòa án xét xử hành vi Chủ tịch UBND phường Hương Sơn có hành vi xúc phạm quyền công dân.

Căn cứ khoản 3; khoản 4 Điều 3 Luật TTHC quy định:

3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  1. Hành vi hành chính bị kiệnlà hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định:

“Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền

  1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”.

Căn cứ quy định trên yêu cầu khởi kiện trên của ông Hiếu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hành chính.

Sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Mạnh Hiếu, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng người khởi kiện không thực hiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, phải áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, trả lại đơn khởi kiện.

  1. Áp dụng chế định về án phí không đúng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án buộc ông Đỗ Mạnh Hiếu phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, chuyển từ khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007454 ngày 21/3/2019 của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là chưa phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án quy định:

Điều 18. Xử lý tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

  1. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyếtvụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sựvà trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có yếtố nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 472 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại điểm b, c, e, d, g và h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.

Theo quy định trên trong trường hợp này người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Phòng 10-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thông báo đến các đơn vị VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên nắm được để tham khảo rút kinh nghiệm chung.

                                                                             Phòng 10

Page 1 of 11312345...102030...Last »